![]() |
| Số lượng phế liệu nhập khẩu đang tồn đọng tại các cảng biển mỗi năm lên tới hàng nghìn container. |
Theo đánh giá của cơ quan Hải quan, công tác giám sát hải quan đã thay đổi cơ bản về mục tiêu, yêu cầu, phương thức giám sát hải quan, đặc biệt là ở các địa bàn trọng điểm như cảng biển, cảng hàng không. Trên cơ sở quy định của Luật Hải quan các phương thức giám sát hải quan được triển khai toàn diện, đặc biệt là các phương thức giám sát hải quan hiện đại: seal định vị điện tử, camera giám sát, cân điện tử...
Trong đó, việc vận hành hiệu quả Hệ thống quản lý tự động kho, bãi, cảng VASSCM giúp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan tại các kho, bãi, cảng thuộc địa bàn quản lý, nâng cao ý thức thực thi pháp luật nhà nước trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp.
Sau thời gian triển khai, Hệ thống quản lý hải quan tự động, hệ thống quản lý, giám sát hàng hóa tại cảng hàng không đã hài hòa giữa quy trình giám sát, quản lý của cơ quan Hải quan và quy trình vận hành, khai thác của các doanh nghiệp giúp vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp cảng, kho bãi, giảm thời gian, chí phí cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong khi tăng cường hiệu quả giám sát của cơ quan Hải quan.
Thông qua hệ thống, cơ quan Hải quan quản lý toàn bộ quá trình từ khi hàng hóa được khai báo trên thông tin manifest điện tử (đối với hàng nhập khẩu), đưa vào cũng như đến khi ra khỏi khu vực giám sát hải quan và vận chuyển về các địa điểm giám sát khác; kịp thời nắm bắt các diễn biến, thông tin thay đổi nguyên trạng bao bì đóng gói hàng hóa, vị trí lưu giữ hàng hóa, theo dõi hàng tồn…
Thông tin quản lý, giám sát hàng hóa xuyên suốt được trao đổi, cập nhật thông qua phương thức điện tử cũng giúp công tác quản lý rủi ro, kiểm soát chống buôn lậu, giám sát hải quan, theo dõi, xử lý hàng tồn... đạt hiệu quả hơn. Đồng thời, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi theo quy định tại Luật Hải quan năm 2014.
Một số công đoạn nghiệp vụ trước đây được thực hiện thủ công, sử dụng văn bản giấy như: Công đoạn trước, trong quá trình khi dỡ hàng từ phương tiện vận tải xuống cảng; công đoạn trong quá trình lưu giữ hàng hóa tại cảng; công đoạn hàng hóa đưa ra khỏi khu vực giám sát… đến nay, các công đoạn này đã được thực hiện hoàn toàn qua Hệ thống quản lý hàng hóa hải quan tự động, giảm bớt thủ tục giấy tờ dẫn đến giảm thời gian giải quyết thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, qua đó giúp cơ quan Hải quan có thêm nhân sự để bố trí, tăng cường cho các bộ phận nghiệp vụ khác.
Việc triển khai đề án giám sát góp phần loại bỏ triệt để việc thực hiện thủ công, sử dụng văn bản giấy trong quá trình xử lý nghiệp vụ, giảm thời gian thông quan, giải phóng hàng, giảm áp lực cho công chức hải quan, nâng cao hiệu suất công việc.
Để vừa tạo thuận lợi thương mại nhưng vừa quản lý chặt chẽ việc tiêu hủy đối với hàng hóa gây ô nhiễm môi trường trong trường hợp, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, dự thảo Luật Hải quan được xây dựng theo hướng tăng thời hạn lưu giữ hàng hóa tại kho ngoại quan lên 24 tháng, địa điểm thu gom hàng lẻ (CFS) lên 180 ngày và bãi bỏ hoàn toàn thủ tục xin gia hạn. Ngược lại, để siết chặt quản lý môi trường, doanh nghiệp cảng, kho bãi phải chịu trách nhiệm tiêu hủy hàng hóa gây ô nhiễm vô chủ dưới sự giám sát của cơ quan Hải quan.
Thẩm tra nội dung dự thảo Luật Hải quan, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các cơ quan của Quốc hội tán thành sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan.
Đối với xử lý hàng hóa tồn đọng, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cơ bản tán thành quy định về xử lý hàng hóa gây ô nhiễm môi trường nhằm kịp thời xử lý hàng tồn đọng, giảm chi phí và áp lực lưu giữ tại các cảng, kho, bãi.
Tuy nhiên, Uỷ ban đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, làm rõ, hoàn thiện quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi trong việc chủ trì xử lý hàng hóa tồn đọng để đảm bảo đồng bộ, thống nhất với các quy định khác của hệ thống pháp luật.