

Một trong những thay đổi có ý nghĩa trực tiếp đối với doanh nghiệp là việc hoàn thiện cơ sở pháp lý cho Cơ chế một cửa quốc gia và sử dụng thông điệp dữ liệu trong thực hiện thủ tục hải quan.
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16, người khai hải quan gửi thông tin, chứng từ dưới dạng thông điệp dữ liệu để thực hiện thủ tục hải quan và các thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước có liên quan thông qua hệ thống thông tin một cửa quốc gia. Cơ quan Hải quan quyết định thông quan, giải phóng hàng hóa trên cơ sở thông tin từ hệ thống.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 cũng quy định hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật trao đổi dữ liệu điện tử và giá trị pháp lý của chứng từ dưới dạng thông điệp dữ liệu trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
Điểm đáng chú ý nằm ở cách xử lý dữ liệu sau khi thông tin đã được cung cấp. Thành phần hồ sơ do cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, tổ chức hoạt động kiểm tra chuyên ngành cấp qua Cơ chế một cửa quốc gia thì người khai hải quan không phải nộp, xuất trình lại cho cơ quan Hải quan. Đây là một trong những nội dung được Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nêu trong báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật trước khi Quốc hội thông qua.
Trong quá trình hoàn thiện dự án Luật, Bộ Tài chính đã tiếp thu theo hướng bổ sung nguyên tắc không yêu cầu nộp lại hồ sơ đã có qua Cơ chế một cửa quốc gia và không yêu cầu nộp lại bản giấy đối với dữ liệu đã chia sẻ; đồng thời chỉnh lý khái niệm Cơ chế một cửa quốc gia theo hướng làm rõ cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu qua hệ thống và thống nhất với Luật Giao dịch điện tử.
Ý nghĩa của quy định này vì thế không chỉ nằm ở việc chuyển hồ sơ giấy sang hồ sơ điện tử. Khi thông tin đã được cung cấp và chia sẻ, dữ liệu có thể tiếp tục được khai thác trong các khâu quản lý phù hợp, thay vì doanh nghiệp phải thực hiện lại cùng một thao tác. Cách tiếp cận này trực tiếp hướng tới giảm chi phí tuân thủ, đồng thời đặt yêu cầu cao hơn đối với tính chính xác, thống nhất và khả năng truy xuất của dữ liệu ngay từ đầu.
Đây cũng là điểm mở đầu cho sự thay đổi rộng hơn: dữ liệu không chỉ phục vụ hoàn thành một thủ tục mà trở thành đầu vào cho các quyết định quản lý tiếp theo.


Khi dữ liệu được kết nối và có thể khai thác trong nhiều khâu, cách thức kiểm tra, giám sát cũng có điều kiện chuyển từ xử lý từng bộ hồ sơ sang phân tích thông tin để xác định đối tượng và giao dịch cần kiểm soát.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 quy định kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro. Cơ quan Hải quan được thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu; phân tích, đối soát, kiểm tra thông tin, dữ liệu hồ sơ; xây dựng hồ sơ rủi ro, hồ sơ trọng điểm và tiêu chí quản lý rủi ro; phát hiện, dự báo, cảnh báo rủi ro để lựa chọn biện pháp kiểm tra, giám sát và kiểm tra sau thông quan phù hợp.
Cùng với quản lý rủi ro, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 xác lập rõ hơn cơ chế quản lý tuân thủ. Theo đó, cơ quan Hải quan xây dựng hồ sơ tuân thủ, giám sát, đánh giá mức độ tuân thủ và áp dụng biện pháp quản lý phù hợp. Người khai hải quan tuân thủ pháp luật được xem xét ưu tiên thực hiện thủ tục, miễn, giảm mức độ kiểm tra, giám sát hải quan và kiểm tra sau thông quan.
Hai cơ chế này có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất. Quản lý tuân thủ phản ánh quá trình chấp hành pháp luật của người khai hải quan; trong khi quản lý rủi ro hướng tới nhận diện những giao dịch, hàng hóa hoặc đối tượng có khả năng phát sinh rủi ro để lựa chọn biện pháp kiểm soát tương ứng.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 đã được chỉnh lý theo hướng phân định rõ quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ, đồng thời giao Chính phủ quy định các nội dung kỹ thuật, qua đó bảo đảm những nguyên tắc quản lý được giữ ổn định tại Luật nhưng vẫn có độ linh hoạt khi triển khai thực tế.
Mối liên hệ này tiếp tục được thể hiện ở kiểm tra sau thông quan. Luật sửa đổi Điều 77 theo hướng kiểm tra hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ, tài liệu và dữ liệu liên quan đến hàng hóa trên cơ sở quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ và ứng dụng công nghệ số.
Như vậy, kiểm tra sau thông quan không tách khỏi phương thức quản lý mới mà trở thành một khâu trong chuỗi thu thập dữ liệu - đánh giá tuân thủ, rủi ro - lựa chọn mức độ kiểm soát - hậu kiểm.
Đối với doanh nghiệp, điều này đồng nghĩa trách nhiệm quản trị dữ liệu không kết thúc khi hàng hóa được thông quan. Hồ sơ, chứng từ và thông tin làm căn cứ khai báo phải được lưu giữ, kiểm soát và có khả năng đối chiếu trong suốt thời gian phục vụ kiểm tra, giải trình theo quy định.


Nếu dữ liệu làm thay đổi cách thức quản lý thì thương mại điện tử đặt ra yêu cầu xác định lại ai cung cấp dữ liệu và ai chịu trách nhiệm đối với dữ liệu trong một giao dịch xuyên biên giới.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 bổ sung Điều 16a về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử. Hàng hóa qua nền tảng phải làm thủ tục và chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan; tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mua, bán hàng hóa với nước ngoài qua nền tảng phải thực hiện định danh, xác thực điện tử. Chủ quản nền tảng có trách nhiệm kết nối với hệ thống xử lý dữ liệu về thương mại điện tử của cơ quan Hải quan khi thực hiện định danh, xác thực điện tử.
Trách nhiệm cung cấp thông tin cũng không chỉ đặt lên người mua hoặc người bán. Chủ quản nền tảng thương mại điện tử, chủ kho ngoại quan, doanh nghiệp vận chuyển hoặc đại lý của doanh nghiệp vận chuyển và các tổ chức, cá nhân liên quan đến hàng hóa đều được xác định trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định.
Quy định này phù hợp với đặc điểm của thương mại điện tử xuyên biên giới, khi thông tin về một đơn hàng được hình thành qua nhiều khâu: giao dịch trên nền tảng, thanh toán, vận chuyển, lưu giữ và làm thủ tục hải quan. Việc kết nối các nguồn dữ liệu giúp cơ quan Hải quan có thêm cơ sở để đối chiếu thông tin về giao dịch, hàng hóa và vận chuyển thay vì chỉ dựa vào dữ liệu do một chủ thể cung cấp.
Trao đổi thảo luận tại phiên họp Quốc hội, đại diện cơ quan soạn thảo cho biết, việc đưa kiểm tra, giám sát hàng hóa qua nền tảng thương mại điện tử vào cấp Luật là cần thiết. Tuy nhiên, Luật chỉ quy định các nguyên tắc cơ bản; Chính phủ được giao quy định chi tiết về ngưỡng trị giá, quy trình, lộ trình xác thực định danh điện tử và trách nhiệm kết nối dữ liệu của chủ quản nền tảng thương mại điện tử nước ngoài không có trụ sở tại Việt Nam.
Cách thiết kế này giúp Luật giữ được những nguyên tắc quản lý cốt lõi, trong khi các yêu cầu kỹ thuật và quy trình có thể được cập nhật theo sự phát triển nhanh của thương mại điện tử.



Sự thay đổi của chuỗi cung ứng cũng được phản ánh trong quy định về kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ và địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu.
Bên cạnh các địa điểm truyền thống như cảng biển, cảng hàng không quốc tế, cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng cạn và cảng thủy nội địa, phạm vi được mở rộng tới khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu phi thuế quan, khu thương mại tự do, trung tâm logistics, khu công nghệ số tập trung, cụm công nghiệp và các khu vực khác theo quy định.
Việc mở rộng địa điểm tạo thêm cơ sở pháp lý để hoạt động lưu giữ, thu gom và điều phối hàng hóa được tổ chức gần hơn với nơi sản xuất, phân phối và kết nối vận tải. Đây là hướng phù hợp với chuỗi cung ứng ngày càng phân tán và yêu cầu tổ chức logistics linh hoạt.
Tuy nhiên, mở rộng không gian hoạt động không đồng nghĩa giảm yêu cầu giám sát. Doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ và hàng miễn thuế vẫn phải thực hiện chế độ kế toán, thống kê, trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật quản lý hàng hóa bằng phương thức điện tử và kết nối với cơ quan Hải quan.
Hàng hóa gửi tại kho ngoại quan được lưu giữ không quá 24 tháng; hàng hóa đưa vào địa điểm thu gom hàng lẻ được lưu giữ không quá 180 ngày. Hàng hóa quá cảnh, trung chuyển và chuyển cửa khẩu tiếp tục thuộc diện chịu sự giám sát hải quan, phải được vận chuyển đúng tuyến đường, cửa khẩu và thời hạn.
Như vậy, cùng với việc mở rộng không gian logistics, yêu cầu quản lý dòng hàng bằng thông tin và phương thức điện tử cũng được đặt ra rõ hơn.


Một điểm mới đáng chú ý của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 là hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.
Luật tạo cơ sở để cơ quan Hải quan chủ động tạm dừng làm thủ tục khi phát hiện căn cứ rõ ràng nghi ngờ hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.
Điểm mới này làm rõ hơn vai trò của cơ quan Hải quan trong việc phát hiện và ngăn chặn hàng hóa có dấu hiệu giả mạo ngay từ quá trình kiểm tra, giám sát, thay vì chỉ xử lý khi có đề nghị từ chủ thể quyền.
Khi phát hiện dấu hiệu thuộc trường hợp luật định, thủ trưởng cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục có trách nhiệm thực hiện biện pháp tạm dừng và thông báo cho người khai hải quan, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc người được ủy quyền hợp pháp để phối hợp xác định vi phạm, xử lý theo quy định.
Luật đồng thời quy định rõ thời hạn xử lý hồ sơ đề nghị tạm dừng. Chậm nhất 2 giờ làm việc kể từ thời điểm nhận đủ hồ sơ đề nghị, thủ trưởng cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục phải quyết định tạm dừng hoặc từ chối tạm dừng, trong đó nêu rõ lý do và thông báo cho chủ thể quyền hoặc người được ủy quyền hợp pháp.
Đối với trường hợp cơ quan Hải quan chủ động tạm dừng, quyết định phải được thông báo cho các chủ thể liên quan để phối hợp xác định vi phạm và xử lý. Quy định này đi cùng với giới hạn thời gian xử lý, theo đó nếu sau thời hạn luật định chủ thể quyền không khởi kiện dân sự và cơ quan có thẩm quyền không thụ lý vụ việc theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan Hải quan phải tiếp tục làm thủ tục cho lô hàng.
Như vậy, điểm mới của Luật không chỉ nằm ở việc bổ sung một biện pháp kiểm soát, mà ở việc xác lập rõ hơn quyền chủ động của cơ quan Hải quan, trình tự xử lý và giới hạn thời gian tạm dừng.
Các quy định này tạo cơ sở để cơ quan Hải quan phản ứng kịp thời trước dấu hiệu hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ, đồng thời xác định rõ trách nhiệm phối hợp của chủ thể quyền và giới hạn can thiệp đối với lô hàng.


Một nhóm sửa đổi có tính chất kỹ thuật nhưng cần thiết là cập nhật các quy định về chủ thể và thẩm quyền để phù hợp với tổ chức hiện hành của cơ quan Hải quan.
Các thuật ngữ gắn với mô hình tổ chức trước đây được thay thế bằng tên gọi hiện hành, như “Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan” thành “Cục trưởng Cục Hải quan”; “Tổng cục Hải quan” thành “Cục Hải quan”; “Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” thành “Hải quan khu vực”; “Chi cục Hải quan, Đội Kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương” thành “Hải quan cửa khẩu, Hải quan ngoài cửa khẩu”.
Thẩm quyền trong kiểm tra sau thông quan cũng được phân định lại giữa Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan và Trưởng Hải quan khu vực.
Những sửa đổi này không tạo ra một chính sách quản lý mới theo nghĩa nội dung, nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với tổ chức thực thi. Khi chủ thể, phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền được xác định thống nhất với mô hình tổ chức hiện hành, các quy định về kiểm tra, giám sát, kiểm soát và hậu kiểm có cơ sở vận hành rõ ràng hơn.
Từ những thay đổi được luật hóa, yêu cầu lớn hơn đặt ra ở khâu tổ chức thực hiện: Đưa cải cách vào từng quy trình nghiệp vụ và chuyển hóa thành những kết quả có thể đo đếm trong thực tiễn. Đó là khi cải cách không chỉ dừng ở việc sửa đổi quy định, mà thực sự rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch và tăng hiệu quả quản lý.
Với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16, hiệu quả của bước chuyển này sẽ được kiểm chứng từ chính quá trình triển khai, khi những quy định mới bắt đầu tạo ra thay đổi cụ thể trong hoạt động hải quan và hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, kể từ thời điểm Luật có hiệu lực ngày 1/3/2027.





