

Cách đây hơn một năm, ngày 1/3/2025, Hải quan Việt Nam chính thức vận hành mô hình tổ chức bộ máy mới theo định hướng sắp xếp, tinh gọn của Chính phủ và Bộ Tài chính.
Với mô hình quản lý 3 cấp, hệ thống được tổ chức lại theo hướng giảm đầu mối, đồng thời phân định lại địa bàn, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền giữa các cấp.
Sự thay đổi diễn ra trong bối cảnh hoạt động xuất nhập khẩu gia tăng nhanh, phương thức giao dịch ngày càng đa dạng, thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển nhanh, kéo theo yêu cầu mới về xử lý thủ tục, kết nối và khai thác dữ liệu, quản lý tuân thủ và phân tích rủi ro.
Tổ chức lại bộ máy ngành Hải quan không chỉ là việc sắp xếp các đầu mối. Khi một cấp quản lý được điều chỉnh, địa bàn được phân định lại, chức năng và thẩm quyền được xác lập theo cách mới thì phương thức tổ chức công việc cũng phải thay đổi tương ứng.
Những quy trình được xây dựng trên nền tảng mô hình cũ được rà soát; các khâu tiếp nhận, xử lý hồ sơ, kiểm tra, giám sát và thông quan được xác định lại cho phù hợp với cách phân công nhiệm vụ mới. Cùng với đó là yêu cầu bảo đảm việc thực hiện thủ tục giữa các đơn vị được thống nhất, không phát sinh thêm khâu trung gian trong quá trình doanh nghiệp làm thủ tục.

Sự thay đổi về tổ chức đặt ra yêu cầu: Hệ thống thể chế phải được điều chỉnh để phù hợp với mô hình quản lý mới. Khi thẩm quyền được phân cấp, quy định về trách nhiệm và trình tự thực hiện phải được xác định rõ; khi phương thức xử lý công việc thay đổi, quy trình nghiệp vụ cũng phải được cập nhật; khi dữ liệu được sử dụng ngày càng sâu trong quản lý, các quy định về hồ sơ, thông tin và trao đổi dữ liệu phải tạo đủ cơ sở cho việc khai thác, sử dụng.
Với lĩnh vực hải quan, những thay đổi về thể chế có tác động trực tiếp đến cả hoạt động quản lý của cơ quan Hải quan và việc thực hiện thủ tục của doanh nghiệp.
Quyết định số 382/QĐ-BTC ngày 26/2/2025 của Bộ Tài chính là cơ sở triển khai mô hình tổ chức mới.
Cùng với việc sắp xếp các đầu mối, Hải quan Việt Nam phải phân định lại nhiệm vụ, địa bàn và trách nhiệm giữa các đơn vị, tổ chức lại nguồn lực và duy trì hoạt động nghiệp vụ trong quá trình chuyển đổi. Nếu việc sắp xếp bộ máy xác lập lại ai thực hiện nhiệm vụ, ở đâu và theo thẩm quyền nào, thì hoàn thiện thể chế phải tiếp tục làm rõ nhiệm vụ được thực hiện theo quy trình nào, thông tin được sử dụng ra sao và trách nhiệm được xác định ở từng khâu như thế nào.
Cùng với tổ chức bộ máy, hệ thống pháp luật về hải quan liên tục được rà soát, sửa đổi. Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 8 luật trong lĩnh vực tài chính, trong đó có Luật Hải quan, tập trung vào phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và tạo cơ sở pháp lý cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Tiếp đó là việc xây dựng, triển khai Nghị định số 167/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP. Ngày 18/12/2025, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 121/2025/TT-BTC, có hiệu lực từ ngày 1/2/2026, tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Các quy định được sửa đổi trong bối cảnh phương thức quản lý hải quan cũng đang thay đổi. Việc xử lý thủ tục trên môi trường điện tử được mở rộng; dữ liệu được khai thác để phục vụ đánh giá mức độ tuân thủ, phân loại và xác định rủi ro; kiểm tra được tập trung hơn vào những trường hợp cần kiểm soát; trong khi những giao dịch mới, đặc biệt từ thương mại điện tử xuyên biên giới, tạo ra yêu cầu khác về quy mô, tốc độ và phương thức xử lý.
Cùng với đó, yêu cầu kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý ngày càng rõ hơn. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu tiếp tục rà soát các quy định không chỉ ở thủ tục hành chính mà cả trong tổ chức quy trình và phương thức thực hiện nhiệm vụ.
Trong quá trình áp dụng các quy định mới, những vấn đề phát sinh ở từng loại hình hàng hóa, mô hình doanh nghiệp và tình huống nghiệp vụ tiếp tục được tổng hợp, hướng dẫn và xử lý. Đây là phần việc gắn trực tiếp với hiệu quả thực thi chính sách, bởi một quy định dù được thiết kế ở cấp độ nào cũng phải được chuyển thành cách xử lý cụ thể tại các đơn vị và được doanh nghiệp thực hiện trong những giao dịch hàng ngày.
Ở phía doanh nghiệp, tác động của cải cách thể chế được thể hiện qua những vấn đề rất cụ thể: thành phần hồ sơ, số lần cung cấp thông tin, thời gian xử lý, khả năng thực hiện trên hệ thống và chi phí phát sinh trong quá trình lưu chuyển hàng hóa. Ở phía cơ quan Hải quan, việc đơn giản hóa thủ tục phải được thực hiện cùng với yêu cầu quản lý thuế, kiểm tra, giám sát và kiểm soát hải quan.
Vì vậy, một yêu cầu hồ sơ được cắt giảm phải đi cùng khả năng khai thác nguồn thông tin khác; một khâu kiểm tra được đơn giản hóa phải dựa trên phương thức xác định rủi ro phù hợp; việc tăng cường xử lý điện tử phải gắn với chuẩn hóa quy trình và xác định rõ trách nhiệm của các bên.
Từ những yêu cầu đó, hoàn thiện thể chế đang được triển khai trên nhiều lớp, từ tổ chức bộ máy, phân cấp và phân quyền đến thủ tục hành chính, quy trình nghiệp vụ, dữ liệu và quản lý rủi ro. Mỗi lớp thay đổi lại đặt ra yêu cầu điều chỉnh ở lớp còn lại, bởi việc giảm một đầu mối không tự tạo ra một quy trình tốt hơn, cũng như số hóa một thủ tục không tự làm giảm chi phí nếu các bước xử lý cũ vẫn được giữ nguyên.
Đáng chú ý, cùng với việc tổ chức lại bộ máy và hoàn thiện khung khổ pháp lý, một nội dung được đặt ra xuyên suốt là rà soát lại chính những công việc doanh nghiệp phải thực hiện khi làm thủ tục. Khâu nào còn cần thiết, khâu nào có thể đơn giản hóa, thông tin nào cơ quan Nhà nước đã có và có thể khai thác thay cho yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại, những bước nào có thể xử lý trên hệ thống các câu hỏi đó đưa cải cách thể chế đến gần hơn với hoạt động xuất nhập khẩu hàng ngày.
Từ thay đổi về tổ chức đến thay đổi trong cách thực hiện thủ tục, yêu cầu đặt ra không chỉ là xây dựng một bộ máy tinh gọn hơn mà còn là hình thành một phương thức quản lý phù hợp hơn với quy mô, tốc độ và cách thức vận hành mới của hoạt động xuất nhập khẩu.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn báo cáo quốc hội về sự cần thiết của Luật Hải quan.


Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật Hải quan số 54/2014/QH13 đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung. Trong khoảng thời gian đó, hoạt động xuất nhập khẩu có những thay đổi đáng kể về quy mô, phương thức giao dịch và tổ chức chuỗi cung ứng. Cùng với đó, thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển nhanh; doanh nghiệp thực hiện ngày càng nhiều giao dịch trên môi trường số; dữ liệu được sử dụng sâu hơn trong xử lý thủ tục và quản lý rủi ro. Yêu cầu cắt giảm thủ tục, giảm chi phí tuân thủ, phân cấp, phân quyền và tổ chức lại phương thức quản lý cũng đặt ra những vấn đề mới đối với pháp luật hải quan.
Ngày 23/8/2026, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16, sau quá trình tổng kết thực tiễn thi hành Luật năm 2014 và rà soát các quy định liên quan. Lần sửa đổi này tập trung vào những vấn đề gắn trực tiếp với hoạt động nghiệp vụ và những thay đổi đang diễn ra trong quản lý hải quan, trong đó đáng chú ý là cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện hải quan số, quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro, quản lý hàng hóa qua thương mại điện tử và điều chỉnh các quy định về phân cấp, phân quyền.
Một trong những nội dung được sửa đổi theo hướng phù hợp hơn với quá trình số hóa là cách thức tiếp nhận và sử dụng thông tin trong thủ tục hải quan. Cơ chế một cửa quốc gia được quy định theo hướng người khai gửi thông tin và chứng từ dưới dạng thông điệp dữ liệu thông qua Hệ thống thông tin một cửa quốc gia (đúng theo tên gọi tại khoản 3 Điều 4 Luật sửa đổi) để thực hiện thủ tục hải quan và các thủ tục liên quan. Các quy định về hồ sơ, chứng từ điện tử được điều chỉnh theo hướng phù hợp với việc xử lý thông tin trên môi trường số.
Điểm này không chỉ liên quan đến hình thức của bộ hồ sơ. Khi thông tin doanh nghiệp cung cấp được lưu trữ và sử dụng ở nhiều khâu, dữ liệu từ quá trình khai báo có thể tiếp tục phục vụ kiểm tra hồ sơ, đánh giá tuân thủ, phân tích rủi ro và các hoạt động quản lý sau thông quan. Điều đó đặt ra yêu cầu dữ liệu phải được chuẩn hóa, kết nối và có khả năng khai thác trong toàn bộ quy trình thay vì chỉ phục vụ một lần xử lý.
Luật bổ sung quy định về quản lý tuân thủ, việc đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp được sử dụng cùng với các thông tin về hàng hóa, giao dịch và lịch sử quản lý để xác định mức độ rủi ro, từ đó lựa chọn biện pháp kiểm tra phù hợp. Trong quá trình xây dựng Luật, việc ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa vào phân tích, đánh giá rủi ro cũng được đặt ra, phù hợp với hướng phát triển hệ thống quản lý dựa nhiều hơn vào dữ liệu.
Khi phương thức quản lý này được áp dụng, kết quả kiểm tra không dừng lại ở một lô hàng mà tiếp tục trở thành thông tin phục vụ đánh giá các giao dịch và mức độ tuân thủ trong những lần tiếp theo. Điều này cũng làm rõ hơn vai trò của kiểm tra sau thông quan trong mối quan hệ với kiểm tra tại thời điểm thông quan: giảm những can thiệp không cần thiết đối với trường hợp rủi ro thấp nhưng vẫn duy trì khả năng kiểm soát đối với những trường hợp có dấu hiệu vi phạm.
Thương mại điện tử xuyên biên giới là một nội dung mới được quy định cụ thể hơn trong Luật. Với phương thức giao dịch này, thông tin về một giao dịch có thể được hình thành trên nhiều hệ thống và liên quan đến nhiều chủ thể, từ người bán, người mua, chủ quản nền tảng đến doanh nghiệp vận chuyển, đại lý vận chuyển. Luật bổ sung quy định về kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử, đồng thời xác định trách nhiệm cung cấp thông tin của các chủ thể liên quan.
Việc đưa nội dung này vào Luật Hải quan phản ánh một thay đổi trong cách tiếp cận quản lý. Thay vì chỉ dựa vào thông tin từ người khai hải quan, cơ quan Hải quan có thêm nguồn dữ liệu từ các chủ thể tham gia chuỗi giao dịch. Đây là cơ sở để quản lý lượng giao dịch lớn trên nền tảng số, đồng thời phục vụ phân tích rủi ro và lựa chọn trường hợp cần kiểm tra.
Cùng với các nội dung trên, Luật Hải quan sửa đổi sẽ cắt giảm, đơn giản hóa một số thủ tục và nghĩa vụ của doanh nghiệp; điều chỉnh một số quy định đối với đại lý làm thủ tục hải quan, tăng thời hạn lưu giữ hàng hóa tại một số địa điểm, giảm việc báo cáo của doanh nghiệp, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các quy định về Cơ chế một cửa quốc gia, kiểm tra chuyên ngành và kiểm tra sau thông quan. Những thay đổi này liên quan trực tiếp đến số lượng hồ sơ, thời gian xử lý và các công việc doanh nghiệp phải thực hiện trong quá trình đưa hàng hóa qua biên giới.
Một nhóm nội dung khác gắn với phân cấp, phân quyền và mô hình tổ chức mới của Hải quan Việt Nam. Khi chức năng, nhiệm vụ và địa bàn quản lý đã được sắp xếp lại, quy định về thẩm quyền cũng cần được điều chỉnh tương ứng, bảo đảm việc giao nhiệm vụ đi cùng trách nhiệm xử lý và quyết định. Đây là phần thể chế gắn trực tiếp với việc đưa mô hình tổ chức mới vào vận hành.
Nhìn từ những nội dung được sửa đổi, có thể thấy lần này Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 không chỉ xử lý từng thủ tục riêng lẻ. Các quy định mới cùng tác động vào cách thông tin được tạo lập, cung cấp và sử dụng; cách doanh nghiệp được phân loại về mức độ tuân thủ; cách cơ quan Hải quan lựa chọn đối tượng kiểm tra; trách nhiệm của các chủ thể trong giao dịch thương mại điện tử và thẩm quyền của từng cấp trong mô hình tổ chức mới.
Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 được thông qua, các nội dung này sẽ tiếp tục được cụ thể hóa trong nghị định, thông tư và quy trình nghiệp vụ. Đây là khâu đưa quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 vào hoạt động thực tế: Dữ liệu nào được sử dụng, doanh nghiệp cung cấp thông tin ở đâu, thông tin được khai thác ở những khâu nào, trường hợp nào được giảm kiểm tra và thẩm quyền xử lý thuộc cấp nào.
Từ đó, hiệu quả của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 sẽ không chỉ được thể hiện ở số điều khoản được thay đổi, mà ở cách những quy định mới được chuyển thành quy trình mà doanh nghiệp thực hiện và phương thức mà cơ quan Hải quan sử dụng để quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu.


Cải cách thủ tục hải quan đang chuyển từ việc rà soát từng thủ tục sang xem xét toàn bộ quy trình thực hiện. Trọng tâm là cắt giảm những thủ tục không cần thiết, đơn giản hóa thành phần hồ sơ, hạn chế yêu cầu cung cấp thông tin trùng lặp và sử dụng dữ liệu đã có để phục vụ giải quyết thủ tục.
Ngày 9/7/2025, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2421/QĐ-BTC, trong đó lĩnh vực hải quan có 39 thủ tục thuộc phương án cắt giảm, đơn giản hóa. Ngày 27/8/2025, Quyết định số 1848/QĐ-TTg đưa 39 thủ tục hành chính và 15 điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hải quan vào phương án cắt giảm, đơn giản hóa.
Đến ngày 15/5/2026, Cục Hải quan cho biết đã thực thi phương án đối với 33/39 thủ tục theo kế hoạch, đồng thời chủ động thực hiện thêm 13 thủ tục ngoài kế hoạch; 16/16 điều kiện kinh doanh đã hoàn thiện phương án cắt giảm.
Đáng chú ý, thực hiện Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP, Bộ Tài chính đã công bố 22/22 thủ tục hành chính được giao và chủ động tái cấu trúc thêm 90 thủ tục có thành phần hồ sơ được thay thế bằng dữ liệu theo Quyết định số 4517/QĐ-BTC ngày 31/12/2025. Trong lĩnh vực hải quan, Quyết định số 964/QĐ-BTC ngày 17/4/2026, Bộ Tài chính đã công bố 4 thủ tục có thành phần hồ sơ được thay thế bằng dữ liệu.
Việc thay thế hồ sơ bằng dữ liệu không chỉ là chuyển chứng từ văn bản giấy sang dạng điện tử. Vấn đề quan trọng hơn là cơ quan quản lý có thể sử dụng thông tin đã có để xử lý thủ tục, thay vì tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại. Khi dữ liệu được kết nối, việc đối chiếu thông tin có thể được thực hiện trên nhiều nguồn, trong khi doanh nghiệp giảm các thao tác lặp lại.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu về chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong cung cấp, cập nhật, chia sẻ và khai thác thông tin. Đây cũng là nội dung cần được quy định đồng bộ trong hệ thống pháp luật để dữ liệu có thể được sử dụng ổn định trong quá trình giải quyết thủ tục và quản lý rủi ro.

Năm 2026, cải cách tiếp tục được triển khai theo Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP, trong đó có 11 thủ tục được đơn giản hóa và 16 thủ tục được cắt giảm, bãi bỏ theo các phương án đã được phê duyệt. Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 tiếp tục đặt yêu cầu phân quyền, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.
Theo phương án đang triển khai, 9 điều kiện kinh doanh và 6 thủ tục hành chính liên quan đến đại lý làm thủ tục hải quan, kho bảo thuế và kinh doanh hàng miễn thuế tiếp tục được rà soát. Với đại lý làm thủ tục hải quan, hướng cải cách là giảm tiền kiểm, tăng trách nhiệm tuân thủ và hậu kiểm; đối với kinh doanh hàng miễn thuế, các điều kiện kinh doanh và phương thức kiểm tra, giám sát tiếp tục được rà soát.
Đánh giá về nỗ lực cải cách thể chế và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp của cơ quan Hải quan, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, những chuyển động cải cách của ngành Hải quan thời gian qua đã chạm đúng vào kỳ vọng lớn nhất của cộng đồng doanh nghiệp. Việc chuyển dịch mạnh mẽ từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” cùng cơ chế chia sẻ dữ liệu dùng chung là giải pháp thực chất nhất nhằm giải phóng chi phí lưu kho bãi, tiết giảm thời gian thông quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu.
Tuy nhiên, theo ông Đậu Anh Tuấn, yêu cầu cốt lõi hiện nay là bảo đảm tính nhất quán trong áp dụng thủ tục tại các chi cục hải quan địa phương, loại bỏ triệt để tình trạng thực thi thiếu đồng bộ hay các rào cản chi phí phi chính thức phát sinh trong thực tiễn.
Năm 2026, cải cách trong lĩnh vực hải quan được đặt trọng tâm vào việc rà soát các thủ tục có thành phần hồ sơ không còn phù hợp, tái cấu trúc quy trình và tăng sử dụng dữ liệu thay cho hồ sơ mà cơ quan quản lý đã có thông tin. Theo định hướng cải cách của Cục Hải quan, trọng tâm không chỉ là giảm số lượng thủ tục mà là loại bỏ những yêu cầu không cần thiết nhưng không làm giảm hiệu quả quản lý. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp giảm thời gian, chi phí tuân thủ, đồng thời tạo điều kiện để cơ quan Hải quan tập trung nguồn lực cho những khâu, đối tượng và lĩnh vực có rủi ro.


Quản lý rủi ro là phương thức quan trọng trong quản lý hải quan hiện đại. Khi số lượng tờ khai và giao dịch tăng, cơ quan Hải quan không thể kiểm tra theo cùng một mức độ đối với tất cả hàng hóa. Phân loại, đánh giá rủi ro và xác định mức độ kiểm tra phù hợp là yêu cầu đặt ra đối với cả hệ thống.
Năm 2025, toàn ngành xử lý 20,26 triệu tờ khai, trong đó luồng Xanh chiếm 66,9%, luồng Vàng 30,44% và luồng Đỏ 2,65%. So với 10 năm trước, số lượng tờ khai tăng mạnh nhưng tỷ lệ luồng Đỏ giảm đáng kể. Cục Hải quan đặt mục tiêu năm 2026 tỷ lệ luồng Xanh đạt 70%, luồng Vàng 25% và luồng Đỏ không quá 5%, đồng thời tiếp tục giảm tiền kiểm và tăng hậu kiểm.
Để giảm kiểm tra thực tế nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý, yếu tố quyết định là chất lượng thông tin phục vụ phân tích rủi ro. Dữ liệu về doanh nghiệp, lịch sử tuân thủ, hàng hóa, trị giá, tuyến đường, phương thức vận chuyển và kết quả kiểm tra cần được khai thác trong quá trình đánh giá.
Đây là lý do dữ liệu ngày càng được đặt ở vị trí trung tâm trong quản lý hải quan. Khi thông tin về doanh nghiệp và hàng hóa đã có trong hệ thống, việc kết nối và khai thác dữ liệu cho phép cơ quan Hải quan có thêm cơ sở đối chiếu, phân loại và xác định phương thức kiểm tra. Doanh nghiệp tuân thủ tốt được tạo thuận lợi; nguồn lực kiểm tra tập trung vào những trường hợp có rủi ro cao hơn.
Phân tích sâu góc độ quản trị thể chế vĩ mô, TS. Nguyễn Minh Thảo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, việc chuyển đổi phương thức quản lý dựa trên dữ liệu số và phân tích rủi ro là bước tiến bắt buộc để cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia. Quản lý rủi ro chỉ phát huy tối đa hiệu lực khi cơ sở dữ liệu doanh nghiệp được kết nối liên thông, chia sẻ toàn diện giữa cơ quan Hải quan và các bộ, ngành thực hiện kiểm tra chuyên ngành, giải quyết triệt để tình trạng “thông quan hải quan nhanh nhưng ách tắc tại khâu kiểm tra chuyên ngành”. Việc thiết lập mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp làm thước đo phân luồng kiểm tra chính là cơ chế kinh tế quan trọng để định hình văn hóa tự nguyện tuân thủ trong cộng đồng doanh nghiệp.

Khẳng định định hướng nghiệp vụ từ cơ quan quản lý nhà nước, ông Nguyễn Thành Hưng, Phó Cục trưởng Cục Hải quan phân tích, sự bùng nổ của giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới đang đặt ra thách thức chưa từng có đối với công tác kiểm soát hải quan hiện đại. Với mật độ giao dịch khổng lồ, giá trị đơn hàng nhỏ và tần suất thông quan liên tục, việc chuyển đổi tư duy quản lý sang hạ tầng công nghệ số và ứng dụng thuật toán phân tích dữ liệu tự động là yêu cầu bắt buộc để ngăn chặn nguy cơ ách tắc dòng chảy thương mại. Do đó, việc hoàn thiện thể chế gắn với xây dựng hệ thống quản lý chuyên biệt cho hàng hóa thương mại điện tử là bước đi chiến lược mà ngành Hải quan đang tập trung quyết liệt hoàn thiện.


Từ tháng 6/2026, Cục Hải quan triển khai thí điểm mô hình thông quan tập trung tại Chi cục Hải quan khu vực III (khu vực Hải Phòng). Mô hình được thực hiện trong bối cảnh bộ máy Hải quan đã chuyển sang mô hình tổ chức mới và yêu cầu xử lý thủ tục trên môi trường điện tử ngày càng cao.
Theo Cục Hải quan, thông quan tập trung không chỉ thay đổi đầu mối xử lý tờ khai mà tổ chức lại các khâu nghiệp vụ. Khâu thông quan được tập trung tại Đội Thông quan; các đơn vị hải quan cửa khẩu thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan theo chức năng và địa bàn. Việc phân định công việc theo hướng chuyên môn hóa tạo điều kiện chuẩn hóa quy trình và tổ chức lại nguồn lực.

Sau hơn một 2 tháng thí điểm triển khai, từ ngày 1/6/2026 thời gian xử lý của cơ quan Hải quan giảm khoảng 12% so với tháng 5, giảm khoảng 14%, so với quý I/2026. Đây là thời gian xử lý của cơ quan Hải quan, chưa bao gồm thời gian doanh nghiệp thực hiện thủ tục với các cơ quan kiểm tra chuyên ngành và cơ quan quản lý nhà nước khác. Kết quả này cho thấy mô hình thông quan tập trung đồng thời tạo điều kiện tổ chức xử lý thủ tục và tăng khả năng rà soát, phân tích rủi ro.
Một nội dung quan trọng của mô hình là số hóa chứng từ và trao đổi thông tin trên hệ thống. Khi chứng từ được xử lý trên môi trường điện tử, doanh nghiệp giảm thao tác cung cấp, công chức Hải quan giảm các khâu xử lý thủ công và việc trao đổi thông tin giữa các đơn vị được thực hiện thống nhất hơn.
Từ góc độ cải cách thủ tục, mô hình này đặt ra ba yêu cầu: quy trình phải được chuẩn hóa; dữ liệu phải được kết nối, khai thác thống nhất; trách nhiệm của từng đơn vị trong thông quan, kiểm tra, giám sát và kiểm soát phải được xác định rõ.
Thông quan tập trung vì vậy là một bước thử nghiệm quan trọng trong quá trình tổ chức lại hoạt động nghiệp vụ sau khi bộ máy Hải quan được sắp xếp. Kết quả thí điểm không chỉ được đánh giá bằng số lượng tờ khai được xử lý mà còn ở thời gian thông quan, mức độ giảm thao tác, khả năng phân tích rủi ro và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Từ thực tiễn này, yêu cầu hoàn thiện pháp luật tiếp tục được đặt ra. Khi phương thức tổ chức thực hiện thủ tục thay đổi, các quy định về thẩm quyền, trách nhiệm và quy trình nghiệp vụ cũng phải phù hợp để bảo đảm áp dụng thống nhất.


Nhìn từ những thay đổi đang diễn ra, câu chuyện cải cách của Hải quan Việt Nam thực chất nằm trong một quá trình vận động lâu dài cùng hoạt động thương mại và nền kinh tế. Ngày 10/9/1945, Sở Thuế quan và Thuế gián thu được thành lập theo Sắc lệnh số 27-SL, đặt nền móng cho tổ chức Hải quan Việt Nam. Từ những nhiệm vụ ban đầu gắn với kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, thu thuế và chống buôn lậu, hoạt động hải quan từng bước mở rộng cùng quá trình phát triển sản xuất, thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế. Qua mỗi giai đoạn, yêu cầu quản lý thay đổi kéo theo những điều chỉnh về tổ chức, pháp luật, nghiệp vụ và phương thức thực hiện.
81 năm sau ngày thành lập, bối cảnh hoạt động hải quan đã khác rất xa. Hàng hóa lưu chuyển trong những chuỗi cung ứng xuyên biên giới ngày càng phức tạp; giao dịch được thực hiện trên các nền tảng số; thương mại điện tử tạo ra những phương thức trao đổi mới; dữ liệu ngày càng tham gia trực tiếp vào quá trình thực hiện thủ tục và ra quyết định quản lý. Cùng với đó là yêu cầu rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp, tăng khả năng dự báo và bảo đảm kiểm soát hiệu quả những rủi ro phát sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Những thay đổi ấy đang được phản ánh trong chính quá trình cải cách của ngành Hải quan: bộ máy được tổ chức lại, pháp luật tiếp tục được rà soát, thủ tục được đơn giản hóa, dữ liệu được khai thác sâu hơn và phương thức quản lý dựa trên tuân thủ, rủi ro từng bước được hoàn thiện. Mỗi nội dung có một phạm vi tác động khác nhau, nhưng đều hướng vào những công việc diễn ra hàng ngày trong hoạt động hải quan: tiếp nhận thông tin, xử lý thủ tục, kiểm tra, giám sát, quản lý thuế và kiểm soát hàng hóa qua biên giới.
Ở phía trước, những yêu cầu đó tiếp tục thay đổi theo sự vận động của thương mại và công nghệ. Một quy trình được thiết kế hôm nay có thể cần điều chỉnh khi phương thức giao dịch thay đổi; dữ liệu được sử dụng hiệu quả hơn sẽ làm thay đổi cách lựa chọn đối tượng kiểm tra; những giao dịch mới lại đặt ra yêu cầu mới đối với pháp luật và tổ chức thực hiện. Cải cách vì vậy gắn với việc thường xuyên rà soát những gì đang diễn ra trong thực tế để điều chỉnh chính sách, quy trình và phương thức quản lý cho phù hợp.
Từ một cơ quan được thành lập trong những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hải quan Việt Nam đã đi qua 81 năm cùng những biến chuyển đổi mới lớn của đất nước. Từ kiểm soát hàng hóa qua biên giới đến quản lý trên nền tảng dữ liệu, từ những quy trình thủ công đến môi trường điện tử, mỗi giai đoạn đều đặt ra những yêu cầu riêng đối với tổ chức và phương thức thực hiện nhiệm vụ.
Chặng đường 81 năm vì thế không chỉ được nhìn lại qua những dấu mốc đã qua, mà còn được nối tiếp từ những thay đổi đang diễn ra. Trong một môi trường thương mại ngày càng số hóa và vận động nhanh, yêu cầu đặt ra với Hải quan Việt Nam vẫn là tiếp tục hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục và phương thức quản lý trên cơ sở những vấn đề được đặt ra từ thực tiễn. Đó là công việc không có điểm kết thúc cố định, bởi chính hoạt động xuất nhập khẩu và nền kinh tế sẽ tiếp tục tạo ra những yêu cầu mới cho quản lý hải quan.


KHI BỘ MÁY MỚI CHÍNH THỨC ĐI VÀO VẬN HÀNH, NGÀNH HẢI QUAN BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN THEN CHỐT: ĐỊNH HÌNH LẠI TOÀN BỘ HẠ TẦNG QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU. LÀM THẾ NÀO ĐỂ HÀNH HÀNH LANG PHÁP LÝ KHÔNG CHỈ THEO KỊP YÊU CẦU TINH GỌN TỔ CHỨC, MÀ CÒN TẠO BỆ PHÓNG CHO MÔ HÌNH HẢI QUAN SỐ, HẢI QUAN THÔNG MINH VÀ BẢO ĐẢM AN NINH CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU? TRAO ĐỔI VỚI TẠP CHÍ KINH TẾ - TÀI CHÍNH, CỤC TRƯỞNG CỤC HẢI QUAN NGUYỄN VĂN THỌ ĐÃ PHÁC THẢO NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC TRONG CUỘC TÁI THIẾT THỂ CHẾ NÀY.
Phóng viên: Thưa Cục trưởng, việc vận hành bộ máy mới từ ngày 1/3/2025 là bước ngoặt lớn về mặt tổ chức. Đứng dưới góc độ quản trị thể chế, đâu là những đột phá mang tính quyết định để bộ máy mới vận hành hiệu lực, hiệu quả và tối ưu hóa nguồn lực quản lý?
Cục trưởng Nguyễn Văn Thọ: Việc tổ chức lại bộ máy từ ngày 1/3/2025 theo mô hình 3 cấp không đơn thuần là sự thay đổi về mặt cơ học hay sơ đồ tổ chức, mà là cuộc tái thiết toàn diện về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và quy trình nghiệp vụ trong toàn hệ thống. Mô hình bộ máy mới đòi hỏi một hành hành lang pháp lý tương thích, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và phân định rõ trách nhiệm thực thi ở từng cấp quản lý.
Trong đợt rà soát thể chế này, chúng tôi tập trung giải quyết hai yêu cầu cốt lõi. Một là, tạo lập nền tảng pháp lý vững chắc để bộ máy mới vận hành thông suốt, loại bỏ triệt để tình trạng chồng chéo hoặc khoảng trống thẩm quyền. Hai là, coi đây là thời cơ vàng để "làm sạch" quy trình, mạnh dạn cắt giảm các thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh không còn phù hợp với thực tiễn.
Đột phá lớn nhất trong tư duy hoàn thiện thể chế đợt này là chuyển dịch phương thức kiểm soát: giảm thiểu các thủ tục "tiền kiểm" mang tính hành chính sang cơ chế quản lý dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và phân tích rủi ro tự động. Cắt giảm một thành phần hồ sơ hay lược bỏ một bước nghiệp vụ chỉ thực sự có giá trị khi cơ quan Hải quan vẫn nắm chắc dữ liệu để thực hiện kiểm tra, giám sát và quản lý thuế hiệu quả. Vì vậy, chúng tôi đẩy mạnh việc thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu dùng chung, tăng cường đối chiếu thông tin liên thông và chuyển mạnh sang "hậu kiểm". Thước đo cuối cùng của cải cách thể chế phải được đo lường bằng những con số thực tế: thời gian thông quan giảm, số lần cung cấp thông tin tối thiểu và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp được tiết giảm ở mức tối đa.

Phóng viên: Thương mại điện tử xuyên biên giới, logistics thông minh và các mô hình kinh doanh số đang bùng nổ với tốc độ chưa từng có. Ngành Hải quan đang chuẩn bị những bước chuyển dịch thể chế cốt lõi nào để vừa làm chủ dòng chảy dữ liệu khổng lồ này, vừa xây dựng thành công mô hình Hải quan số, Hải quan thông minh?
Cục trưởng Nguyễn Văn Thọ: Bối cảnh thương mại toàn cầu hiện nay cho thấy thông tin về hàng hóa, doanh nghiệp và chuỗi cung ứng được tạo lập rải rác trên rất nhiều nền tảng số. Nếu tiếp tục duy trì tư duy quản lý thủ công dựa trên chứng từ truyền thống, hệ thống hải quan chắc chắn sẽ đối mặt với nguy cơ ách tắc trước mật độ giao dịch khổng lồ, đặc biệt là các đơn hàng trị giá nhỏ từ thương mại điện tử xuyên biên giới.
Do đó, định hướng thể chế trong giai đoạn tới là tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho phương thức quản lý dựa trên việc khai thác và phân tích dữ liệu lớn (Big Data). Hải quan số hay Hải quan thông minh không chỉ là chuyển việc nộp hồ sơ từ bản giấy sang bản điện tử.
Bản chất của Hải quan số là dữ liệu phải trở thành "mạch máu" chạy xuyên suốt toàn bộ quy trình nghiệp vụ từ tiếp nhận thông tin sớm, đánh giá mức độ tuân thủ, phân tích rủi ro tự động bằng thuật toán cho đến khi ra quyết định thông quan.
Theo định hướng này, những khâu nghiệp vụ mang tính định hình, chuẩn hóa sẽ được tự động hóa hoàn toàn trên hệ thống công nghệ thông tin; nguồn lực công chức hải quan sẽ được giải phóng để tập trung vào các địa bàn rủi ro cao, các khâu phân tích chuyên sâu và kiểm soát gian lận thương mại phức tạp. Song song đó, cơ quan Hải quan duy trì cơ chế đối thoại định kỳ, thẳng thắn với cộng đồng doanh nghiệp nhằm phát hiện sớm các "điểm nghẽn" chính sách phát sinh từ thực địa, từ đó kịp thời sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật. Thể chế tốt phải là thể chế song hành và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp tuân thủ.
Phóng viên: Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đòi hỏi sự tương thích rất cao giữa thể chế trong nước và chuẩn mực toàn cầu. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý hải quan hiện nay có vai trò như thế nào trong việc kết nối hạ tầng dữ liệu quốc tế, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và nâng cao vị thế thương mại của Việt Nam, thưa Cục trưởng?
Cục trưởng Nguyễn Văn Thọ: Cải cách thể chế trong nước và hợp tác hải quan quốc tế là hai mặt của một thể thống nhất, có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Một hành hành lang pháp lý trong nước hiện đại, mở và minh bạch chính là điều kiện tiên quyết để Hải quan Việt Nam thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế, đồng thời chủ động tham gia sâu vào các chương trình hợp tác của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), ASEAN và các đối tác song phương.
Trọng tâm của hợp tác quốc tế hiện nay là trao đổi dữ liệu điện tử sớm (E-data), công nhận lẫn nhau về Doanh nghiệp ưu tiên (AEO), phối hợp quản lý rủi ro và bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi thể chế trong nước cho phép và hệ thống công nghệ thông tin đủ năng lực kết nối, dữ liệu về lô hàng có thể được chia sẻ, đối chiếu giữa cơ quan Hải quan các nước ngay từ khi hàng hóa chưa rời cảng đi.
Việc nhận diện và phân tích rủi ro từ sớm, từ xa mang lại "lợi ích kép": cơ quan Hải quan nâng cao năng lực chủ động kiểm soát hải quan, ngăn chặn từ gốc các nguy cơ buôn lậu, gian lận thương mại; đồng thời, các lô hàng của doanh nghiệp tuân thủ tốt sẽ được hưởng luồng ưu tiên, thông quan ngay khi đến cửa khẩu. Hoàn thiện thể chế hải quan theo chuẩn mực quốc tế chính là chiếc cầu nối quan trọng giúp giảm chi phí logistics, tăng độ tin cậy của chuỗi cung ứng quốc gia, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh chiến lược để doanh nghiệp Việt Nam hội nhập sâu rộng và bền vững vào thị trường toàn cầu.
Phóng viên: Xin cảm ơn Cục trưởng!

