![]() |
| Thực hiện sang tải container hàng hóa xuất nhập khẩu tại Công viên logistics Viettel Lạng Sơn. Ảnh: Logistics Viettel Lạng Sơn. |
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 mở rộng phạm vi địa điểm được thành lập kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu.
Bên cạnh cảng biển, cảng hàng không quốc tế, cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng cạn và cảng thủy nội địa có hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh, tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16, kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu được thành lập tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu phi thuế quan, khu thương mại tự do, trung tâm logistics, khu công nghệ số tập trung, cụm công nghiệp và các khu vực khác theo quy định.
Việc mở rộng các địa điểm này tạo cơ sở pháp lý để hoạt động lưu giữ, tập kết và thu gom hàng hóa được tổ chức phù hợp hơn với thực tế vận hành của chuỗi cung ứng. Hàng hóa xuất nhập khẩu có thể được bố trí tại những địa điểm gắn với khu vực sản xuất, trung tâm logistics hoặc các đầu mối giao nhận, thay vì chỉ tập trung tại các khu vực cửa khẩu và cảng như trước đây.
Đối với doanh nghiệp, ý nghĩa của quy định nằm ở việc có thêm lựa chọn trong việc vận chuyển, lưu giữ hàng hóa xuất nhập khẩu. Tùy theo đặc điểm nguồn hàng, tuyến vận chuyển và nhu cầu giao nhận, doanh nghiệp có thể lựa chọn địa điểm lưu giữ, tập kết hoặc thu gom phù hợp, từ đó chủ động hơn trong việc bố trí kho và điều phối hàng hóa trong chuỗi và tính toán tiết kiệm chi phí.
Tuy nhiên, việc mở rộng không gian logistics được đặt cùng với yêu cầu quản lý hải quan. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 quy định doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ và địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế phải thực hiện chế độ kế toán, thống kê, trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật quản lý hàng hóa bằng phương thức điện tử và kết nối với cơ quan Hải quan để phục vụ kiểm tra, giám sát.
Như vậy, việc mở thêm địa điểm không đồng nghĩa với việc tách hoạt động logistics khỏi sự quản lý của cơ quan Hải quan, mà tạo thêm các điểm tổ chức hàng hóa trong một hệ thống quản lý thống nhất.
Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, đại diện Công ty TNHH Mạnh Đạt cho rằng, với doanh nghiệp logistics, việc mở rộng các địa điểm được phép tổ chức kho, tập kết và thu gom hàng hóa sẽ tạo thêm phương án bố trí hoạt động. Doanh nghiệp có thể lựa chọn địa điểm phù hợp hơn với khu vực sản xuất, tuyến vận chuyển và nhu cầu giao nhận của khách hàng, qua đó hạn chế những khâu trung chuyển không cần thiết và chủ động hơn trong điều phối hàng hóa.
Cùng với việc mở rộng các địa điểm logistics, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 cũng quy định hàng hóa quá cảnh, trung chuyển và chuyển cửa khẩu thuộc đối tượng vận chuyển chịu sự giám sát hải quan. Cách quy định này phù hợp với đặc điểm của chuỗi vận chuyển xuyên biên giới, trong đó hàng hóa có thể đi qua nhiều địa điểm, phương thức vận tải và chủ thể trước khi đến nơi giao nhận cuối cùng.
Việc quản lý theo hành trình giúp yêu cầu giám sát được đặt xuyên suốt quá trình vận chuyển thay vì chỉ tập trung tại một điểm. Đối với doanh nghiệp, điều này có ý nghĩa khi tổ chức những tuyến vận chuyển có nhiều chặng hoặc kết hợp nhiều phương thức vận tải, bởi hàng hóa có thể được điều phối theo nhu cầu của chuỗi nhưng vẫn nằm trong phạm vi quản lý hải quan.
Phát biểu tại Quốc hội ngày 23/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, Luật đã bổ sung trách nhiệm của các chủ thể như doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát nhanh, chủ quản nền tảng thương mại điện tử, người thực hiện dịch vụ quá cảnh, trung chuyển hàng hóa theo hướng phù hợp với Công ước Kyoto và thông lệ quốc tế. Việc xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia vận chuyển là cơ sở để quản lý phù hợp với sự phát triển của chuỗi logistics xuyên biên giới.
Cùng với việc mở rộng địa điểm, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 cũng kế thừa quy định về các hoạt động được thực hiện tại một số loại hình logistics và bỏ quy định về việc định kỳ báo cáo về tình hình hoạt động, hiện trạng hàng hóa. Đối với kho ngoại quan, pháp luật không chỉ quy định chức năng lưu giữ hàng hóa mà còn cho phép thực hiện các hoạt động phục vụ logistics theo điều kiện và phạm vi được quy định.
Đối với địa điểm thu gom hàng lẻ, doanh nghiệp có thể thực hiện việc chia tách, đóng ghép các lô hàng của nhiều chủ hàng trong cùng một container và sắp xếp lại hàng hóa lưu giữ theo quy định.
![]() |
| Doanh nghiệp linh hoạt lựa chọn phương án logistics phù hợp. Ảnh: Cục Hải quan |
Những quy định này có ý nghĩa trực tiếp đối với mô hình kinh doanh logistics hiện nay, khi nhu cầu của khách hàng không chỉ dừng ở việc thuê kho mà bao gồm nhiều công đoạn như tập kết, phân loại, gom hàng, chia hàng, đóng ghép và điều phối vận chuyển. Việc pháp luật ghi nhận các hoạt động này tạo cơ sở để doanh nghiệp tổ chức dịch vụ theo chuỗi thay vì phải tách rời từng công đoạn.
Theo TS Nguyễn Minh Phong- chuyên gia kinh tế, điểm đáng chú ý là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 không chỉ mở rộng địa điểm mà còn tạo cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp tổ chức nhiều công đoạn logistics trong cùng chuỗi. Khi hoạt động lưu giữ, thu gom, chia tách và đóng ghép hàng hóa được quy định rõ, doanh nghiệp có thêm điều kiện xây dựng dịch vụ phù hợp với nhu cầu thực tế của khách hàng và tổ chức vận chuyển hiệu quả hơn.
Ngoài ra, việc tăng thời gian lưu giữ hàng hóa và bỏ thủ tục gia hạn tại các loại hình địa điểm, kho cũng có ý nghĩa đối với kế hoạch kinh doanh. Doanh nghiệp có căn cứ xác định thời gian lưu giữ, xây dựng phương án xử lý hàng hóa và chủ động kế hoạch giao nhận, tiết kiệm chi phí, nhân lực, đồng thời cơ quan Hải quan có cơ sở quản lý hàng hóa theo thời gian lưu giữ và trạng thái của từng loại hình.
Đối với hàng hóa quá cảnh, trung chuyển và chuyển cửa khẩu, việc tổ chức vận chuyển theo hành trình cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp lựa chọn phương án logistics phù hợp hơn với tuyến đường và phương thức vận tải. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng xuyên biên giới ngày càng gắn kết, khả năng kết nối giữa các cửa khẩu, cảng, kho, trung tâm logistics và các địa điểm tập kết có ý nghĩa trực tiếp đối với thời gian và chi phí vận chuyển.
Đặc biệt, việc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 ghi nhận trung tâm logistics, khu thương mại tự do, khu công nghệ số tập trung và cụm công nghiệp trong phạm vi các địa điểm có thể tổ chức một số hoạt động logistics và chịu sự quản lý hải quan tạo thêm dư địa cho sự phát triển của các mô hình logistics gắn với sản xuất và phân phối. Doanh nghiệp có thể có thêm lựa chọn bố trí các công đoạn của chuỗi tại những khu vực gần nguồn hàng hoặc thị trường tiêu thụ, thay vì chỉ phụ thuộc vào các đầu mối giao thông truyền thống.
Ở góc độ doanh nghiệp, lợi ích của quy định mới sẽ được thể hiện rõ nhất khi các địa điểm và hoạt động được pháp luật cho phép có thể được tổ chức trên thực tế với quy trình rõ ràng, điều kiện phù hợp và thời gian xử lý ổn định. Khi đó, doanh nghiệp logistics có thêm cơ sở mở rộng dịch vụ, còn doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thêm phương án lựa chọn trong lưu giữ và vận chuyển hàng hóa.
Ở góc độ quản lý, việc mở rộng không gian kinh doanh logistics đi cùng yêu cầu duy trì giám sát hải quan giúp bảo đảm sự cân bằng giữa tạo thuận lợi và kiểm soát. Hàng hóa có thể được tổ chức qua nhiều địa điểm và công đoạn hơn, nhưng các hoạt động này vẫn nằm trong khuôn khổ pháp lý và chịu sự quản lý tương ứng.