![]() |
| Mô hình thông quan Cửa khẩu thông minh. Ảnh: Viettel Post. |
Ngày 27/8/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 128/2026/TT-BTC quy định về kiểm tra, giám sát và quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải hoạt động trong khu vực Cửa khẩu thông minh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/10/2026.
Việc ban hành Thông tư số 128/2026/TT-BTC là bước tiến quan trọng trong quá trình thể chế hóa mô hình Cửa khẩu thông minh, đưa các yêu cầu về chuyển đổi số, tự động hóa, kết nối và trao đổi dữ liệu vào khuôn khổ pháp lý cụ thể. Qua đó, tạo nền tảng triển khai mô hình cửa khẩu thế hệ mới trên thực tế, phù hợp với xu hướng hiện đại hóa quản lý biên giới và thúc đẩy thương mại xuyên biên giới.
Theo Thông tư, khu vực Cửa khẩu thông minh có phạm vi, ranh giới địa lý rõ ràng thuộc khu vực cửa khẩu biên giới đất liền và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Hải quan. Khu vực này có thể bao gồm khu vực tập kết hàng hóa, khu vực kiểm tra thực tế, khu vực soi chiếu container, trung tâm điều khiển vận hành, khu vực nâng hạ container tự động và tuyến đường dành cho phương tiện vận tải thông minh không người lái.
Một yêu cầu quan trọng là hệ thống quản lý vận hành Cửa khẩu thông minh phải có khả năng kết nối, trao đổi dữ liệu với hệ thống phía Trung Quốc và hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan. Cùng với đó là các hệ thống phục vụ kiểm tra, giám sát như camera nhận diện phương tiện vận tải thông minh không người lái, barie điện tử, camera giám sát, cân điện tử và hệ thống quản lý hàng hóa ra vào khu vực Cửa khẩu, kết nối trực tiếp với hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
Thông tư cũng tạo cơ sở quản lý đối với phương tiện vận tải thông minh không người lái hoạt động trong khu vực Cửa khẩu thông minh. Loại phương tiện này có khả năng tự động hóa một phần hoặc toàn bộ hoạt động điều khiển, xác định lộ trình và xử lý tình huống giao thông để vận chuyển container. Khi vào, ra khu vực Cửa khẩu thông minh, phương tiện không phải thực hiện thủ tục hải quan xuất cảnh, nhập cảnh nhưng vẫn chịu sự kiểm tra, giám sát và kiểm soát của cơ quan Hải quan.
Đáng chú ý, mô hình quản lý được thiết kế theo hướng dữ liệu được cung cấp trước, giúp cơ quan Hải quan phân tích, đánh giá rủi ro trước khi hàng hóa đến cửa khẩu. Đối với hàng nhập khẩu, dữ liệu về hàng hóa và phương tiện có thể được tiếp nhận trước từ Hải quan Trung Quốc thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, tạo điều kiện chuyển từ phương thức kiểm tra dựa nhiều vào sự hiện diện trực tiếp sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro.
Thông tư đồng thời đặt nền tảng cho kết nối dữ liệu xuyên biên giới. Cục Hải quan được giao nâng cấp, triển khai Cổng thông tin một cửa quốc gia để thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN và trao đổi thông tin với Tổng cục Hải quan Trung Quốc theo thỏa thuận hợp tác về chia sẻ dữ liệu tờ khai hải quan, phục vụ triển khai mô hình Cửa khẩu thông minh Việt Nam - Trung Quốc.
Việc số hóa các khâu giao nhận, kết hợp quản lý rủi ro, hướng tới giảm các thao tác trung gian, rút ngắn thời gian giao nhận hàng hóa và hạn chế ùn tắc phương tiện. Đồng thời, dữ liệu được số hóa tạo điều kiện nâng cao tính minh bạch, khả năng giám sát và truy xuất quá trình vận chuyển hàng hóa. Với doanh nghiệp, mô hình này giúp chủ động hơn trong kế hoạch giao nhận và nâng cao khả năng dự báo trong chuỗi logistics.
Thông tư số 128/2026/TT-BTC cũng phân định trách nhiệm giữa cơ quan Hải quan và doanh nghiệp quản lý, vận hành Cửa khẩu thông minh. Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống công nghệ thông tin kết nối với phía Trung Quốc, hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan và Cổng thông tin một cửa quốc gia, qua đó tạo cơ sở để các bên cùng tham gia vào hệ sinh thái Cửa khẩu thông minh nhưng vẫn bảo đảm vai trò quản lý nhà nước của cơ quan Hải quan.
Thông tư số 128/2026/TT-BTC chỉ áp dụng đối với các cặp Cửa khẩu thông minh được cơ quan có thẩm quyền quyết định đưa vào vận hành, khai thác, sử dụng. Việc thiết lập khung quản lý phù hợp với phương thức vận hành mới tạo nền tảng để chuyển từ mô hình quản lý truyền thống sang quản lý bằng dữ liệu, kiểm soát bằng công nghệ, ra quyết định dựa trên rủi ro và tăng cường kết nối xuyên biên giới, góp phần xây dựng môi trường thương mại xuyên biên giới thuận lợi, minh bạch, an toàn và hiệu quả hơn.