![]() |
| Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 bổ sung khung pháp lý cho quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử. Ảnh: Cục Hải quan |
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 bổ sung Điều 16a về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử. Theo đó, hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử phải làm thủ tục và chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan; tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mua, bán hàng hóa với nước ngoài qua nền tảng phải thực hiện định danh, xác thực điện tử; chủ quản nền tảng có trách nhiệm kết nối với hệ thống xử lý dữ liệu về thương mại điện tử của cơ quan Hải quan.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 đồng thời xác định trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa của chủ quản nền tảng thương mại điện tử, doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan, doanh nghiệp vận chuyển hoặc đại lý của doanh nghiệp vận chuyển và các tổ chức, cá nhân liên quan.
Việc xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể tạo cơ sở để hoạt động kiểm tra, giám sát được thực hiện phù hợp với đặc điểm của giao dịch thương mại điện tử, nơi thông tin về hàng hóa được hình thành và lưu chuyển qua nhiều chủ thể khác nhau.
Điểm đáng chú ý là các yêu cầu về định danh, xác thực điện tử, kết nối và cung cấp thông tin được đưa vào Luật như những nguyên tắc nền tảng của quản lý hàng hóa thương mại điện tử.
Đây là cơ sở để các quy định về thủ tục, kiểm tra, giám sát được xây dựng phù hợp với phương thức giao dịch trên môi trường số, thay vì áp dụng máy móc như cách thức quản lý đối với giao dịch truyền thống.
Phát biểu tại Quốc hội ngày 23/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, việc quy định kiểm tra, giám sát hàng hóa qua nền tảng thương mại điện tử ở cấp Luật là cần thiết. Luật chỉ quy định những nguyên tắc cơ bản, còn Chính phủ được giao quy định chi tiết về ngưỡng trị giá, quy trình và lộ trình xác thực định danh điện tử; đồng thời bổ sung trách nhiệm kết nối dữ liệu đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử nước ngoài không có trụ sở tại Việt Nam.
Cách thiết kế này vừa tạo khung pháp lý thống nhất, vừa có dư địa để quy định chi tiết được điều chỉnh theo sự phát triển của công nghệ và thực tiễn thương mại điện tử. Những vấn đề mang tính nguyên tắc được quy định tại Luật, trong khi các yêu cầu kỹ thuật, quy trình và lộ trình thực hiện được giao quy định cụ thể, qua đó hạn chế nguy cơ quy định pháp luật nhanh chóng không còn phù hợp với sự thay đổi của phương thức giao dịch số.
Theo ông Hoàng Quốc Huy, Công ty TNHH Logistics Huy Trung, khi đơn vị vận chuyển và các chủ thể liên quan được kết nối, chia sẻ thông tin thống nhất, doanh nghiệp sẽ giảm việc cung cấp lại dữ liệu, chủ động hơn trong chuẩn bị hồ sơ và tổ chức giao nhận. Quy trình càng rõ và dữ liệu được chia sẻ thuận lợi thì doanh nghiệp càng dễ chủ động về thời gian và chi phí thực hiện thủ tục.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 quy định kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro. Cơ quan Hải quan thực hiện thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu; phân tích, đối soát, kiểm tra thông tin; xây dựng hồ sơ rủi ro, hồ sơ trọng điểm; phát hiện, dự báo, cảnh báo rủi ro và lựa chọn biện pháp kiểm tra, giám sát phù hợp. Luật Hải quan số 11/2026/QH16 cũng cho phép ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong quản lý rủi ro.
![]() |
| Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 cũng cho phép ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong quản lý rủi ro. Ảnh: Cục Hải quan |
Đối với thương mại điện tử, trách nhiệm kết nối và cung cấp thông tin được quy định đối với nhiều chủ thể trong giao dịch, từ chủ quản nền tảng, doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan đến doanh nghiệp vận chuyển và các tổ chức, cá nhân liên quan. Việc xác định rõ trách nhiệm này tạo cơ sở để hình thành nguồn thông tin đầy đủ hơn, phục vụ quá trình kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử.
Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong, điểm quan trọng là công nghệ giúp cơ quan Hải quan xử lý khối lượng giao dịch lớn theo cách phù hợp hơn với đặc điểm của thương mại điện tử. Khi dữ liệu được phân tích và đối chiếu trên hệ thống, việc kiểm soát có thể tập trung vào những giao dịch cần làm rõ, thay vì phải kiểm tra theo cùng một cách đối với toàn bộ dòng hàng. Đây là cơ sở để vừa nâng cao hiệu quả quản lý, vừa tạo thuận lợi cho những giao dịch có mức độ rủi ro thấp.
Dữ liệu chỉ phát huy hiệu quả khi được chuẩn hóa và kết nối giữa các hệ thống. Thông tin thống nhất về người mua, người bán, hàng hóa và vận chuyển sẽ giúp cơ quan Hải quan thuận lợi hơn trong đối chiếu, phân tích và đánh giá, đồng thời hạn chế việc doanh nghiệp phải bổ sung, xác minh thông tin.
Việc Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 bổ sung trách nhiệm kết nối dữ liệu đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử nước ngoài không có trụ sở tại Việt Nam cũng mở rộng khả năng tiếp cận thông tin của cơ quan Hải quan, góp phần hoàn thiện quản lý đối với thương mại điện tử xuyên biên giới.
Với doanh nghiệp, khi yêu cầu về thông tin và trách nhiệm của từng chủ thể được xác định rõ, doanh nghiệp có thể chủ động chuẩn bị hồ sơ, dữ liệu và kế hoạch giao nhận, hạn chế phát sinh trong quá trình xử lý thủ tục.
Để các quy định phát huy hiệu quả khi Luật có hiệu lực, Chính phủ sẽ quy định chi tiết Điều 16a, trong đó có ngưỡng trị giá, quy trình và lộ trình xác thực định danh điện tử. Việc cụ thể hóa các nội dung này theo hướng rõ ràng, khả thi sẽ là cơ sở để dữ liệu thực sự hỗ trợ quản lý dòng hàng thương mại điện tử và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.