![]() |
| 471/474 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan đạt tỷ lệ 94,20%. Ảnh: Văn phòng Quốc hội |
| Sáng 23/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan với 471/474 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 94,20%. Luật gồm 4 điều, sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về hồ sơ hải quan, Cơ chế một cửa quốc gia, quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ, thương mại điện tử, logistics và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động hải quan. Luật có hiệu lực từ ngày 1/3/2027, tạo khoảng thời gian để cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan chuẩn bị hạ tầng, quy trình và các điều kiện cần thiết cho triển khai. |
Một trong những điểm tạo dấu ấn rõ nét của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 là dữ liệu được đặt ở vị trí trung tâm trong toàn bộ quy trình quản lý. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 xác định kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro, đồng thời sửa đổi, bổ sung quy định về Cơ chế một cửa quốc gia.
Theo đó, Luật quy định theo hướng làm rõ cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu qua hệ thống. Người khai hải quan thực hiện gửi thông tin, chứng từ dưới dạng thông điệp dữ liệu trên hệ thống thông tin một cửa quốc gia để thực hiện thủ tục của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Cơ quan Hải quan quyết định thông quan, giải phóng hàng hóa trên cơ sở thông tin từ hệ thống thông tin một cửa quốc gia, không yêu cầu người khai hải quan nộp, xuất trình cho cơ quan Hải quan các chứng từ do cơ quan nhà nước quản lý chuyên ngành, tổ chức hoạt động kiểm tra chuyên ngành cấp qua cơ chế một cửa quốc gia.
Phát biểu tại Kỳ họp Quốc hội ngày 23/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, yêu cầu chuẩn bị đồng bộ các điều kiện để Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan sớm đi vào cuộc sống, trong đó Bộ Tài chính đã rà soát các nội dung giao Chính phủ, giao Bộ trưởng quy định chi tiết và ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng hải quan số, vận hành thử nghiệm trước khi Luật có hiệu lực. Trên nền tảng đó, nguyên tắc không yêu cầu doanh nghiệp nộp lại hồ sơ đã có qua Cơ chế một cửa quốc gia, không yêu cầu nộp lại bản giấy đối với dữ liệu đã được chia sẻ được kỳ vọng sẽ góp phần giảm thao tác, rút ngắn thời gian xử lý và chi phí tuân thủ.
Đây là thay đổi có ý nghĩa trực tiếp, tích cực đối với doanh nghiệp, bởi chi phí tuân thủ không chỉ gồm các khoản chi phí phát sinh trong quá trình làm thủ tục hải quan mà còn bao gồm thời gian, nhân lực dành cho việc chuẩn bị, cung cấp và đối chiếu hồ sơ, thông tin liên quan đến các chứng từ do cơ quan nhà nước quản lý chuyên ngành, tổ chức hoạt động kiểm tra chuyên ngành cấp khi dữ liệu chưa được kết nối, chia sẻ giữa các hệ thống.
Khi thông tin đã được cơ quan nhà nước tiếp nhận và có thể khai thác, việc sử dụng lại dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp giảm cung cấp hồ sơ, thông tin trùng lặp, rút ngắn thời gian xử lý và giảm chi phí tuân thủ. Đây cũng là cơ sở để đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu mà vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý.
Theo ông Âu Mạnh Toàn, Trưởng phòng Xuất nhập khẩu, Công ty CP sản xuất ô tô Hyundai Thành Công Việt Nam, với doanh nghiệp, hiệu quả của kết nối dữ liệu phải thể hiện ở việc không phải cung cấp lại thông tin đã có, giảm thời gian và nhân sự xử lý hồ sơ. Khi dữ liệu được chia sẻ thông suốt giữa các cơ quan, doanh nghiệp có thể chủ động hơn về thời gian thông quan, hạn chế chi phí lưu kho, lưu bãi và tập trung nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 cũng xác lập rõ cơ sở pháp lý cho việc trao đổi, sử dụng thông tin điện tử, trong đó quy định về giá trị pháp lý của chứng từ dưới dạng thông điệp dữ liệu trong việc thực hiện thủ tục hải quan.
Cùng với đó, Cơ chế một cửa quốc gia được xác định theo hướng tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, tạo cơ sở để thông tin đã được cung cấp được khai thác trong quá trình xử lý thủ tục.
Khi nguồn thông tin được kết nối và khai thác hiệu quả, dữ liệu không chỉ phục vụ giải quyết từng thủ tục mà còn trở thành đầu vào cho quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro. Trên cơ sở thông tin về doanh nghiệp, hàng hóa và quá trình thực hiện thủ tục, cơ quan Hải quan có thêm cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ, nhận diện rủi ro và lựa chọn biện pháp nghiệp vụ hải quan phù hợp.
Đây là nền tảng để chuyển từ từ quản lý hồ sơ sang quản lý dữ liệu, từ quản lý hành chính sang phục vụ phát triển.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 xác định dữ liệu trong quá trình thực hiện thủ tục là nguồn thông tin quan trọng phục vụ quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ.
![]() |
| Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn báo cáo về dự thảo Luật Hải quan tại Quốc hội. Ảnh: Văn phòng Quốc hội |
Theo đó, cơ quan Hải quan thực hiện thu thập, xử lý, phân tích, đối soát và kiểm tra thông tin; xây dựng hồ sơ rủi ro, hồ sơ trọng điểm; phát hiện, dự báo, cảnh báo rủi ro và lựa chọn biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm tra sau thông quan và các hoạt động nghiệp vụ khác phù hợp với mức độ rủi ro, mức độ tuân thủ. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 cũng cho phép ứng dụng công nghệ số, Big Data và AI trong quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ.
Điểm đáng chú ý là dữ liệu được gắn trực tiếp với quá trình ra quyết định quản lý. Từ thông tin được thu thập và xử lý, cơ quan Hải quan có thể đánh giá mức độ tuân thủ, nhận diện rủi ro và lựa chọn biện pháp kiểm soát phù hợp. Qua đó, tạo điều kiện tập trung nguồn lực vào những trường hợp cần kiểm tra và tạo thuận lợi hơn cho các đối tượng có mức độ tuân thủ tốt.
Ông Âu Mạnh Toàn cho rằng, khi dữ liệu được khai thác hiệu quả, cơ quan Hải quan có thể đánh giá sát hơn mức độ tuân thủ và rủi ro để lựa chọn biện pháp quản lý phù hợp. Theo đó, doanh nghiệp tuân thủ tốt có thêm điều kiện được tạo thuận lợi, trong khi nguồn lực kiểm tra được tập trung vào những trường hợp có rủi ro cao.
Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với doanh nghiệp về chất lượng và tính thống nhất của dữ liệu. Khi thông tin được sử dụng để đánh giá tuân thủ, doanh nghiệp cần bảo đảm dữ liệu trên hợp đồng, hóa đơn, chứng từ vận tải, kế toán, kho hàng và tờ khai thống nhất, chính xác, có thể đối chiếu khi cần thiết.
Ở góc độ nền kinh tế, quản lý dựa trên dữ liệu có thể góp phần giảm chi phí giao dịch khi doanh nghiệp không phải cung cấp lại thông tin, cơ quan Hải quan có thêm cơ sở đánh giá rủi ro và những trường hợp rủi ro thấp được xử lý thuận lợi hơn. Thời gian hàng hóa chờ thủ tục được rút ngắn sẽ tạo tác động tích cực đến vận tải, kho bãi, logistics, sản xuất và phân phối.
Để phương thức quản lý này vận hành hiệu quả, thúc đẩy tuân thủ tự nguyện được các chuyên gia chính sách, các nhà quản lý, các doanh nghiệp rất mong đợi khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan lần này.