![]() |
| Công chức Hải quan Ninh Bình (Chi cục Hải quan khu vực IV) hướng dẫn thủ tục cho doanh nghiệp. Ảnh: H.Nụ |
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 bổ sung một Điều quy định về quản lý tuân thủ, trong đó cơ quan Hải quan thực hiện xây dựng, quản lý hồ sơ tuân thủ, giám sát, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của người khai hải quan và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp với mức độ tuân thủ. Luật cũng cho phép ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý tuân thủ, tạo cơ sở để việc đánh giá được thực hiện thường xuyên và có hệ thống.
Điểm đáng chú ý là kết quả tuân thủ được gắn trực tiếp với phương thức quản lý. Theo quy định Luật, người khai hải quan tuân thủ pháp luật được xem xét ưu tiên thực hiện thủ tục, miễn, giảm mức độ kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan và các hoạt động nghiệp vụ khác. Như vậy, tuân thủ không chỉ là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp mà còn có thể trở thành một căn cứ để cơ quan Hải quan áp dụng mức độ quản lý phù hợp.
Đối với doanh nghiệp, điểm mới này tạo thêm động lực để chuyển trọng tâm từ bị động xử lý sai sót sang chủ động kiểm soát việc chấp hành pháp luật trong toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu. Khi mức độ tuân thủ được phản ánh vào phương thức quản lý, việc kiểm soát hồ sơ, chứng từ, khai báo và thực hiện đúng các nghĩa vụ theo quy định không chỉ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro mà còn có thể tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện thủ tục.
Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, đại diện Công ty TNHH Mạnh Đạt cho rằng, doanh nghiệp kỳ vọng các tiêu chí đánh giá tuân thủ được xác định rõ ràng, minh bạch và có thể theo dõi trong quá trình hoạt động. Khi việc tuân thủ tốt được ghi nhận và gắn với cơ chế tạo thuận lợi, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực kiểm soát chặt hồ sơ, chứng từ và quy trình xuất nhập khẩu, qua đó duy trì mức độ tuân thủ ổn định và hạn chế sai sót.
Từ góc độ quản lý, việc đưa mức độ tuân thủ vào căn cứ lựa chọn biện pháp quản lý cũng tạo điều kiện để cơ quan Hải quan áp dụng phương thức phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có quá trình chấp hành tốt có cơ sở được xem xét áp dụng các biện pháp tạo thuận lợi theo quy định, trong khi những trường hợp cần tiếp tục theo dõi, đánh giá vẫn được đặt trong phạm vi quản lý của cơ quan Hải quan.
Phát biểu tại Quốc hội ngày 23/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng phân định rõ quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung kỹ thuật nhằm bảo đảm tính ổn định của Luật và tính linh hoạt trong thực tiễn.
Sự phân định này giúp làm rõ vai trò của quản lý tuân thủ trong phương thức quản lý hải quan. Tuân thủ phản ánh mức độ chấp hành pháp luật của người khai hải quan, còn rủi ro là cơ sở để cơ quan Hải quan lựa chọn biện pháp kiểm soát phù hợp. Khi hai nội dung được xác định rõ về phạm vi và cách thức thực hiện, việc đánh giá doanh nghiệp và áp dụng các biện pháp quản lý có điều kiện được thực hiện nhất quán hơn.
Điều quan trọng đối với doanh nghiệp là cơ chế này tạo ra một mối liên hệ rõ hơn giữa việc duy trì tuân thủ và khả năng được tạo thuận lợi. Nếu trước đây tuân thủ chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ trách nhiệm pháp lý, thì với quy định mới, mức độ chấp hành pháp luật có thể trở thành một yếu tố được xem xét khi cơ quan Hải quan quyết định cách thức quản lý.
Đây là cơ sở để doanh nghiệp có thêm động lực xây dựng hệ thống kiểm soát phù hợp, thay vì chỉ tập trung vào việc hoàn thành từng bộ hồ sơ.
Việc tạo thuận lợi dựa trên mức độ tuân thủ đặt ra yêu cầu phải bảo đảm khả năng kiểm soát sau khi hàng hóa đã được thông quan. Đây là lý do kiểm tra sau thông quan giữ vai trò quan trọng trong phương thức quản lý mới.
Bên cạnh sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý rủi ro và quản lý tuân thủ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 đã sửa đổi các quy định liên quan đến kiểm tra sau thông quan, qua đó tạo cơ sở để cơ quan Hải quan tiếp tục đánh giá việc chấp hành pháp luật của doanh nghiệp sau thông quan.
![]() |
| Công chức Hải quan cửa khẩu cảng Cần Thơ giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu. Ảnh: Văn Hiền |
Cách tiếp cận này cho phép giảm sự can thiệp không cần thiết tại khâu thông quan nhưng không giảm hiệu quả quản lý. Doanh nghiệp tuân thủ tốt có thể được xem xét miễn, giảm mức độ kiểm tra, giám sát và kiểm tra sau thông quan theo quy định; đồng thời trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của hồ sơ, chứng từ và thông tin khai báo vẫn được duy trì.
Đối với doanh nghiệp, điều này đồng nghĩa tuân thủ phải được duy trì xuyên suốt quá trình hoạt động chứ không chỉ dừng lại ở thời điểm hàng hóa được thông quan. Hồ sơ, chứng từ và thông tin liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu cần được quản lý đầy đủ, thống nhất và có khả năng giải trình khi cơ quan Hải quan thực hiện kiểm tra sau thông quan.
Ở chiều ngược lại, hậu kiểm tạo thêm dư địa để cơ quan Hải quan đánh giá và thực hiện quản lý phù hợp hơn với mức độ tuân thủ. Khi doanh nghiệp đáp ứng tốt các yêu cầu pháp luật và được tạo thuận lợi tại khâu thông quan, cơ quan Hải quan vẫn có công cụ để kiểm tra, đánh giá việc chấp hành trong những trường hợp cần thiết. Vì vậy, giảm kiểm tra trước thông quan không đồng nghĩa với giảm quản lý, mà là thay đổi cách thức và thời điểm thực hiện kiểm soát.
Đây cũng là điểm tạo nên sự gắn kết giữa tạo thuận lợi và trách nhiệm tuân thủ. Doanh nghiệp càng chủ động bảo đảm hồ sơ, chứng từ và việc khai báo chính xác thì càng có cơ sở để được hưởng phương thức quản lý thuận lợi theo quy định; trong khi cơ quan Hải quan có thể sử dụng hậu kiểm để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và xử lý những trường hợp cần kiểm tra, xác minh.
Với nền tảng pháp lý mới, kỳ vọng đặt ra từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 có hiệu lực 1/3/2027 là hình thành được cơ chế quản lý trong đó tuân thủ trở thành cơ sở tạo thuận lợi, còn hậu kiểm trở thành công cụ bảo đảm quản lý. Khi được triển khai minh bạch và nhất quán, cách tiếp cận này không chỉ khuyến khích doanh nghiệp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật mà còn giúp cơ quan Hải quan sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, tạo môi trường thuận lợi và ổn định hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế đất nước.