![]() |
| Bà Lê Yến, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn Thuế Hà Nội. Ảnh: NVCC. |
Không nên hiểu khoản giảm 30% chỉ tính từ ngày 24/8
Phóng viên: Nghị quyết giảm 30% thuế có hiệu lực từ ngày 24/8 nhưng áp dụng cho cả kỳ tính thuế năm 2026. Theo bà, người nộp thuế đã kê khai, tạm nộp thuế trước thời điểm này sẽ cần làm gì để được hưởng chính sách như thế nào?
Bà Lê Yến: Theo tôi, đây là một trong những vấn đề cần được quan tâm nhất khi triển khai chính sách. Nghị quyết được ban hành vào cuối tháng 8 nhưng áp dụng cho toàn bộ kỳ tính thuế năm 2026, do đó, người nộp thuế không nên hiểu rằng khoản giảm 30% chỉ được tính từ ngày 24/8.
Đối với doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng, số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm phải được xác định trên cơ sở nghĩa vụ thuế của cả kỳ tính thuế năm 2026, sau khi đã áp dụng các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp khác theo quy định.
Tương tự, đối với hộ, cá nhân kinh doanh thuộc diện áp dụng, số thuế thu nhập cá nhân được giảm cũng cần được xác định trên cơ sở nghĩa vụ thuế của kỳ tính thuế theo quy định.
Vì vậy, trường hợp người nộp thuế đã kê khai, tạm nộp thuế trong những tháng đầu năm 2026 trước khi Nghị quyết được ban hành thì khi xác định nghĩa vụ thuế của cả kỳ tính thuế, cần tính đến phần thuế được giảm theo chính sách mới.
Theo cơ chế quản lý thuế hiện hành, doanh nghiệp tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý và đối chiếu với số phải nộp khi quyết toán năm. Vì vậy, chính sách giảm 30% có thể tác động trực tiếp đến việc xác định nghĩa vụ thuế của cả kỳ, nhưng cách thể hiện cụ thể khoản giảm trong hồ sơ kê khai, quyết toán cần chờ hướng dẫn triển khai.
Nếu số thuế đã kê khai, tạm nộp cao hơn số thuế thực tế phải nộp sau khi áp dụng mức giảm 30%, phần chênh lệch cần được xử lý theo cơ chế quản lý thuế phù hợp.
Theo tôi, đây là nội dung cần được hướng dẫn cụ thể để người nộp thuế biết chính xác phải thực hiện những bước nào và không phát sinh thêm thủ tục không cần thiết.
Điều quan trọng là quyền được giảm thuế phải được phản ánh đầy đủ trong nghĩa vụ thuế của cả kỳ tính thuế năm 2026, chứ không phụ thuộc vào việc người nộp thuế đã thực hiện kê khai, tạm nộp trước hay sau ngày 24/8.
Hiểu đúng cơ chế giảm thuế và gia hạn thời hạn nộp thuế
Phóng viên: Với các khoản thuế đang được gia hạn, theo bà, người nộp thuế cần lưu ý gì khi áp dụng chính sách giảm 30%?
Bà Lê Yến: Giảm thuế và gia hạn thời hạn nộp thuế là hai cơ chế khác nhau. Việc được gia hạn chỉ làm thay đổi thời điểm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, không làm thay đổi bản chất nghĩa vụ thuế.
Do đó, với những khoản thuế đang được gia hạn, khi chính sách giảm 30% được áp dụng cho cả kỳ tính thuế năm 2026, cần xác định lại số thuế thực tế phải nộp sau khi giảm để người nộp thuế biết chính xác nghĩa vụ còn lại.
Tôi cho rằng, cơ quan quản lý cần hướng dẫn rõ cách xử lý đối với các khoản đã được gia hạn, nhất là trong trường hợp người nộp thuế đã kê khai hoặc tạm nộp một phần nghĩa vụ trước đó. Cách thực hiện nên theo hướng đơn giản, hạn chế tối đa việc phải điều chỉnh nhiều lần.
Ở thời điểm hiện nay, người nộp thuế nên chủ động rà soát dữ liệu về doanh thu, thu nhập tính thuế và số thuế đã kê khai, tạm nộp trong năm 2026. Đây là cơ sở để đối chiếu khi thực hiện quyết toán và áp dụng chính sách.
Người nộp thuế cũng không nên tự ý điều chỉnh hồ sơ hoặc sử dụng các biểu mẫu xin giảm thuế chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố. Nếu chính sách không đặt ra một thủ tục xin giảm thuế riêng thì việc tự tạo thêm hồ sơ chỉ làm tăng chi phí tuân thủ.
Mức giảm 30% trên số thuế phải nộp, không tính trực tiếp trên doanh thu
Phóng viên: Ở góc độ tư vấn chính sách, theo bà, doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh cần lưu ý gì để được hưởng đúng chính sách giảm 30% thuế?
Bà Lê Yến: Trước hết, người nộp thuế cần xác định chính xác mình có thuộc đối tượng được hưởng chính sách hay không. Không nên chỉ căn cứ vào doanh thu mà bỏ qua các điều kiện và trường hợp loại trừ được quy định trong Nghị quyết.
Đối với doanh nghiệp, tôi cho rằng có một số điểm cần đặc biệt lưu ý.
Thứ nhất: Phải xác định chính xác doanh thu của năm 2026 và năm 2027 theo quy định. Doanh nghiệp cần chuẩn bị, lưu giữ đầy đủ sổ sách, báo cáo và dữ liệu xác định tổng doanh thu của từng năm. Các số liệu này cần thống nhất với hóa đơn điện tử, hợp đồng, chứng từ bán hàng và chứng từ thanh toán để có cơ sở xác định điều kiện hưởng chính sách và đối chiếu khi cần thiết.
Đối với những doanh nghiệp có doanh thu sát ngưỡng 10 tỷ đồng, việc kiểm soát dữ liệu doanh thu càng cần được chú trọng, bảo đảm doanh thu được ghi nhận đầy đủ, đúng thời điểm và có căn cứ.
Thứ hai: Cần xác định đúng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp sau khi đã áp dụng các ưu đãi thuế khác theo quy định. Mức giảm 30% được tính trên số thuế phải nộp, không phải tính trực tiếp trên doanh thu. Do đó, doanh nghiệp cần có bảng tính để xác định thu nhập tính thuế, các ưu đãi thuế được hưởng, số thuế phải nộp sau ưu đãi và phần thuế được giảm 30%.
Thứ ba: Doanh nghiệp có hoạt động chia, tách cần rà soát kỹ quy định loại trừ của Nghị quyết. Nếu có hoạt động tái cấu trúc, doanh nghiệp cần lưu giữ hồ sơ liên quan như hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, nghị quyết, phương án tổ chức và các tài liệu chứng minh hoạt động kinh doanh để có cơ sở xác định việc đáp ứng điều kiện theo quy định.
Doanh nghiệp cũng cần lưu ý các giao dịch liên kết nếu có. Hồ sơ giao dịch liên kết và dữ liệu về doanh thu, chi phí giữa các bên liên quan cần được quản lý đầy đủ, bởi đây là những thông tin có thể được xem xét khi đánh giá việc xác định doanh thu và nghĩa vụ thuế.
![]() |
| Ảnh: Minh họa, hỗ trợ bởi AI. |
Theo tôi, doanh nghiệp không nên điều chỉnh, che giấu hoặc chuyển doanh thu nhằm đáp ứng điều kiện hưởng chính sách. Doanh thu phải được ghi nhận trung thực, đầy đủ theo quy định.
Đối với hộ và cá nhân kinh doanh, việc quản lý doanh thu cũng cần được chú trọng. Hộ, cá nhân kinh doanh nên theo dõi đầy đủ doanh thu từ các kênh bán hàng, gồm bán trực tiếp, qua nền tảng số, chuyển khoản, tiền mặt và các nguồn thu khác liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Dữ liệu hóa đơn điện tử, sổ doanh thu, chứng từ bán hàng, hợp đồng, dữ liệu POS hoặc dữ liệu từ nền tảng số, sao kê tài khoản nhận tiền và các chứng từ liên quan cần được lưu giữ đầy đủ để có thể đối chiếu khi cần thiết.
Hộ, cá nhân kinh doanh cũng cần xác định đúng tư cách cá nhân cư trú và thu nhập từ hoạt động kinh doanh theo quy định để xác định phạm vi thu nhập được áp dụng chính sách.
Một điểm người kinh doanh cần hiểu rõ là giảm 30% được tính trên số thuế thu nhập cá nhân phải nộp từ hoạt động kinh doanh, chứ không phải giảm 30% doanh thu.
Vì vậy, việc xác định đúng doanh thu và số thuế phải nộp là cơ sở để xác định đúng số thuế được giảm. Người kinh doanh không nên có tâm lý chỉ cần giữ doanh thu dưới ngưỡng là được hưởng chính sách. Doanh thu phải được phản ánh trung thực, đầy đủ và có khả năng kiểm chứng.
Không nên tìm cách điều chỉnh doanh thu để đáp ứng điều kiện
Phóng viên: Với doanh nghiệp, hộ kinh doanh có doanh thu sát ngưỡng 10 tỷ đồng, đâu là những điểm cần lưu ý để tránh sai sót khi xác định điều kiện hưởng chính sách?
Bà Lê Yến: Khi Nghị quyết đã xác định ngưỡng doanh thu không quá 10 tỷ đồng, điều quan trọng đối với người nộp thuế là xác định đúng doanh thu theo quy định, thay vì tìm cách điều chỉnh doanh thu để đáp ứng điều kiện hưởng chính sách.
Nhóm có doanh thu sát ngưỡng cần đặc biệt chú ý việc ghi nhận doanh thu đầy đủ, đúng thời điểm và có căn cứ. Các dữ liệu về hóa đơn, sổ sách kế toán, chứng từ bán hàng, hợp đồng và thanh toán cần thống nhất với nhau.
Với những trường hợp có hoạt động chia, tách doanh nghiệp sau ngày Nghị quyết có hiệu lực, cần rà soát kỹ quy định loại trừ để tránh hiểu sai về điều kiện được hưởng chính sách.
Về phía cơ quan quản lý, việc khai thác dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu kê khai và các nguồn thông tin liên quan sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đúng đối tượng, đồng thời hạn chế tình trạng chia nhỏ hoạt động, chuyển doanh thu hoặc điều chỉnh hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng điều kiện hưởng chính sách.
Xử lý số thuế chênh lệch đã nộp
Phóng viên: Nhiều người nộp thuế băn khoăn, nếu số thuế đã kê khai, nộp cao hơn số thuế phải nộp sau khi được giảm 30% thì phần chênh lệch được xử lý thế nào?
Bà Lê Yến: Đây là nội dung người nộp thuế rất quan tâm và cần được hướng dẫn rõ.
Do chính sách áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026, việc người nộp thuế đã kê khai và nộp thuế trước ngày Nghị quyết có hiệu lực là tình huống hoàn toàn có thể xảy ra. Sau khi xác định lại nghĩa vụ thuế theo chính sách giảm 30%, nếu phát sinh số thuế đã nộp cao hơn số phải nộp thì cần có cơ chế xử lý phần chênh lệch theo hướng đơn giản, minh bạch.
Theo tôi, nếu người nộp thuế vẫn còn nghĩa vụ thuế khác thì nên ưu tiên bù trừ với số phải nộp để giảm thời gian và chi phí hành chính. Trường hợp không còn nghĩa vụ để bù trừ thì cần có cơ chế hoàn trả phù hợp theo quy định.
Tuy nhiên, ở thời điểm hiện nay, không nên tự mặc định rằng người nộp thuế phải thực hiện một thủ tục hoàn thuế riêng hoặc tự điều chỉnh hồ sơ khi chưa có hướng dẫn cụ thể. Điều cần thiết là cơ quan quản lý sớm hướng dẫn cách xác định, kê khai và xử lý phần chênh lệch để người nộp thuế thực hiện thống nhất.
Quan trọng là người nộp thuế không nên phải thực hiện một quy trình quá phức tạp chỉ để được hưởng khoản giảm thuế đã được xác định theo Nghị quyết. Cơ quan quản lý có thể nghiên cứu khai thác dữ liệu kê khai, hóa đơn điện tử và hệ thống quản lý thuế để giảm tối đa việc người nộp thuế phải kê khai, nộp lại nhiều loại hồ sơ.
Qua đó, chính sách giảm thuế không chỉ được thực hiện đúng về số tiền mà còn thực sự giảm chi phí và thời gian tuân thủ cho người nộp thuế.
Phóng viên: Xin cảm ơn bà!