e magazine
08:30 | 08/09/2026

Ecopillo là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chăn ga gối đệm vừa sản xuất vừa kinh doanh theo hướng B2B (khách hàng doanh nghiệp) và B2C (bán trực tiếp cho người tiêu dùng), với gần 100 lao động thường xuyên. 

Sau giai đoạn đầu tập trung phát triển ở thị trường trong nước, doanh nghiệp đang hướng tới mở rộng B2B và từng bước tiếp cận thị trường quốc tế.

Tuy nhiên để mở rộng hoạt động, doanh nghiệp cần vốn. Chia sẻ với phóng viên, bà Phạm Thị Phương, Tổng giám đốc Công ty TNHH Ecopillo Eternal Việt Nam cho biết, do doanh nghiệp mới thành lập, nên khả năng gọi vốn hạn chế, trong khi nhu cầu mở rộng hoạt động đòi hỏi cần có thêm nguồn lực.

Ecopillo đặt mục tiêu tăng trưởng 20-30% trong năm nay, trong khi doanh thu những tháng đầu năm mới tăng khoảng 5-10%. Doanh nghiệp kỳ vọng thị trường những tháng cuối năm khởi sắc hơn, đồng thời thúc đẩy các kênh đại lý, bán lẻ, B2B, B2C và hướng tới xuất khẩu.

Đây không phải câu chuyện riêng của một doanh nghiệp. Ở khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, khả năng tích lũy thường chưa lớn, khả năng tiếp cận các nguồn vốn dài hạn còn hạn chế, trong khi chi phí sản xuất, lao động và vận hành vẫn phải thanh toán đều đặn. Khi thị trường chưa thực sự thuận lợi, bài toán không chỉ là làm thế nào để bán được hàng, mà còn là làm sao duy trì được dòng tiền để tiếp tục hoạt động và chuẩn bị cho giai đoạn tăng trưởng.

Một khoản thuế được giảm không tự tạo ra doanh thu mới. Nhưng đối với doanh nghiệp có phát sinh số thuế phải nộp, phần nghĩa vụ được giảm là nguồn lực doanh nghiệp được giữ lại thay vì phải nộp vào ngân sách, từ đó có thêm dư địa để xử lý các khoản chi phí hoặc thực hiện kế hoạch kinh doanh.

Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội cũng nhìn nhận đây là điểm đáng chú ý của chính sách giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp đối với nhóm doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh thuộc diện áp dụng. 

Từ câu chuyện của một doanh nghiệp cụ thể, vấn đề mở rộng thành câu chuyện về cách chính sách thuế tác động tới khu vực kinh doanh quy mô nhỏ. Giá trị của chính sách không chỉ nằm ở số tiền ngân sách giảm thu trong từng trường hợp, mà còn ở việc một phần nguồn lực được để lại cho người nộp thuế và được sử dụng như thế nào trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Ngày 24/8/2026, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027, với 480/481 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Nghị quyết có hiệu lực ngay từ ngày được thông qua và áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026 và 2027.

Theo đó, cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh và có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế TNCN phải nộp của kỳ tính thuế tương ứng. Doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế TNDN phải nộp.

Điểm cần hiểu đúng là mức giảm 30% được tính trên số thuế phải nộp, chứ không phải giảm 30% thuế suất. Đối với doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định hiện hành, mức giảm 30% được tính trên số thuế còn phải nộp sau khi đã trừ các khoản ưu đãi thuế.

Cách tính này khiến tác động thực tế của chính sách phụ thuộc vào số thuế mà từng doanh nghiệp phải nộp. Doanh nghiệp có lợi nhuận và phát sinh nghĩa vụ thuế càng lớn thì số tiền được giảm về giá trị tuyệt đối càng lớn; ngược lại, với doanh nghiệp không phát sinh hoặc phát sinh ít thuế phải nộp, mức hưởng cũng tương ứng.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng được lựa chọn nhằm để đại đa số doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế, qua đó có thêm nguồn lực phát triển; đồng thời chính sách được thiết kế theo hướng đơn giản hóa, giảm chi phí tuân thủ và hạn chế việc lợi dụng để hưởng ưu đãi. 

Việc sử dụng doanh thu làm tiêu chí giúp xác định đối tượng tương đối rõ ràng, dễ thực hiện và tạo độ bao phủ rộng, thay vì phải xác định mức độ khó khăn tài chính riêng của từng doanh nghiệp. Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cũng nhấn mạnh yêu cầu chính sách thuế phải trung lập, đơn giản, dễ hiểu, dễ tính, dễ thực hiện và dễ kiểm tra.

Với một chính sách áp dụng trên số lượng lớn doanh nghiệp và hộ kinh doanh, tính đơn giản của tiêu chí cũng có ý nghĩa thực tế. Doanh nghiệp có thể xác định tương đối rõ mình có thuộc phạm vi áp dụng hay không, trong khi cơ quan quản lý có cơ sở để tổ chức thực hiện và kiểm tra.

Mức giảm 30% cũng cần được đặt đúng trong tương quan với quy mô hoạt động. Theo giả định, nếu doanh thu 10 tỷ đồng được chia bình quân thì tương đương khoảng 833 triệu đồng mỗi tháng; với mức lợi nhuận khoảng 12%, số thuế phải nộp mỗi tháng vào khoảng 15-17 triệu đồng. Khi giảm 30%, doanh nghiệp có thể được giảm khoảng 4-5 triệu đồng tiền thuế mỗi tháng.

Con số này cho thấy chính sách không phải là việc giảm 30% toàn bộ chi phí hay 30% doanh thu của doanh nghiệp. Đây là phần giảm trên nghĩa vụ thuế thực tế phải nộp.

Còn ông Hoàng Văn Nghĩa (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi), gọi đây là một “liều thuốc bổ”, giúp doanh nghiệp và hộ kinh doanh giảm áp lực chi phí, giải tỏa nút thắt dòng tiền và có thêm nguồn lực duy trì, mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Trong khi đó, ông Nguyễn Công Long, đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội lại nhìn nhận chính sách từ góc độ rộng hơn của môi trường đầu tư, kinh doanh. Việc Quốc hội phản ứng nhanh trước những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh thể hiện sự đổi mới trong công tác lập pháp; chính sách giảm thuế có thể tạo một “cú hích” đối với môi trường đầu tư, kinh doanh, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

Độ bao phủ rộng, vì vậy, là một trong những điểm đáng chú ý của chính sách. Nếu xét ở từng doanh nghiệp, khoản giảm có thể khác nhau tùy theo kết quả kinh doanh và nghĩa vụ thuế. Nhưng xét trên toàn bộ nhóm đối tượng thuộc ngưỡng doanh thu, chính sách tác động tới một khu vực rất lớn của nền kinh tế.

Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, lớn lên về quy mô. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng. Cùng với các chính sách hỗ trợ đã ban hành, những chính sách mới sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, góp phần tạo động lực cho tăng trưởng. Đây cũng là lý do việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ không chỉ có ý nghĩa trong việc giảm áp lực chi phí hiện tại. 

Nếu nhìn chính sách giảm 30% thuế như một giải pháp đơn lẻ, sẽ khó thấy hết ý nghĩa của nó. Từ đầu năm đến nay, các chính sách hỗ trợ đối với người nộp thuế được triển khai bằng nhiều công cụ khác nhau. Có chính sách trực tiếp làm giảm nghĩa vụ thuế; có chính sách miễn thuế cho nhóm có quy mô rất nhỏ; có chính sách kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ; đồng thời có những giải pháp nhằm giảm chi phí tuân thủ.

Theo Bộ Tài chính, thời gian qua hàng loạt chính sách hỗ trợ về thuế, phí đã được ban hành nhằm tháo gỡ khó khăn cho hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp.

Đối với hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm đến 1 tỷ đồng, theo các quy định mới, không phải nộp thuế TNCN và thuế GTGT. Đây là một chính sách khác với giảm 30% số thuế phải nộp: đối tượng đáp ứng điều kiện được miễn nghĩa vụ thuế theo quy định.

Hộ, cá nhân kinh doanh cũng được hưởng chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế theo Nghị định số 245/2026/NĐ-CP. Thời gian gia hạn nộp thuế GTGT tối đa 5 tháng; thời gian tạm nộp thuế TNCN tối đa 5 tháng. Đối với 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp trong năm 2026, thời gian gia hạn tối đa 5 tháng.

Một hỗ trợ khác liên quan trực tiếp đến chi phí tuân thủ là việc hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ được Nhà nước hỗ trợ cung cấp miễn phí các nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung theo Nghị định số 20/2026/NĐ-CP. Nhóm người nộp thuế này đồng thời được áp dụng chế độ kế toán đơn giản, chỉ sử dụng tối đa 4 loại sổ kế toán theo Thông tư số 152/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Với doanh nghiệp siêu nhỏ, hệ thống hỗ trợ cũng được thiết kế theo nhiều lớp. Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm đến 1 tỷ đồng được miễn thuế TNDN theo Luật số 09/2026/QH16 và Nghị định số 141/2026/NĐ-CP.

Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 50 tỷ đồng, thành lập mới từ hộ kinh doanh, được miễn thuế TNDN trong 2 năm liên tục kể từ khi có thu nhập chịu thuế theo Luật thuế TNDN số 67/2025/QH15. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn thuế TNDN trong 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu theo Nghị quyết số 198/2025/QH15.

Ở phía doanh nghiệp, chính sách gia hạn thời gian nộp thuế cũng tác động trực tiếp tới dòng tiền. Theo Nghị định số 245/2026/NĐ-CP, thời gian gia hạn nộp thuế GTGT tối đa 5 tháng; thời gian tạm nộp thuế TNDN của quý II/2026 được gia hạn 3 tháng và quý III/2026 được gia hạn 2 tháng. Đồng thời, 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp trong năm 2026 được gia hạn tối đa 5 tháng. Theo Bộ Tài chính, tổng số tiền thuế và tiền thuê đất của hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp được gia hạn dự kiến khoảng 125.000 tỷ đồng.

Nếu giảm thuế làm giảm nghĩa vụ thuế phải thực hiện, thì gia hạn thuế chủ yếu thay đổi thời điểm thực hiện nghĩa vụ. Khoản thuế được gia hạn vẫn phải nộp theo thời hạn mới, nhưng trong khoảng thời gian được gia hạn, nguồn tiền đó chưa phải chuyển ra khỏi doanh nghiệp. Với doanh nghiệp đang cần cân đối dòng tiền, sự khác biệt này có ý nghĩa thực tế.

Ở phạm vi rộng hơn, thời gian qua Bộ Tài chính đã ban hành và tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp như giảm thuế GTGT đối với hầu hết các mặt hàng; giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn; các giải pháp về thuế bảo vệ môi trường, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay; miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và miễn, giảm hơn 40 loại phí và lệ phí.

Đặc biệt, chính sách giảm 2% thuế GTGT đối với nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tiếp tục có hiệu lực đến hết năm 2026. Theo đánh giá của Bộ Tài chính, chính sách này góp phần kích cầu tiêu dùng, tăng sức mua hàng hóa, dịch vụ và tối ưu hóa chi phí sản xuất, kinh doanh.

Nhìn tổng thể, các chính sách này không cùng tác động theo một cách. Có chính sách làm giảm trực tiếp nghĩa vụ thuế; có chính sách miễn thuế theo quy mô hoặc thời điểm thành lập; có chính sách giãn thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính để giảm áp lực dòng tiền; và cũng có giải pháp giảm chi phí tuân thủ, hỗ trợ chuyển đổi số, kế toán.

Điểm chung là tạo thêm dư địa tài chính hoặc giảm chi phí thực hiện nghĩa vụ cho người nộp thuế. Trong bối cảnh khả năng tích lũy của khu vực kinh doanh quy mô nhỏ còn hạn chế, việc giảm chi phí hoặc giãn nghĩa vụ tài chính có thể giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động, xử lý dòng tiền và chuẩn bị nguồn lực cho đầu tư.

Những chính sách được ban hành kịp thời cũng thể hiện nỗ lực của Bộ Tài chính, Chính phủ trong việc đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp và hộ, cá nhân kinh doanh, nhất là trong bối cảnh hộ, cá nhân kinh doanh chuyển đổi sang phương thức quản lý thuế mới từ khoán sang kê khai.

Nhìn từ góc độ điều hành tài khóa, những chính sách trên đặt ra một câu hỏi lớn hơn: giảm thuế, miễn thuế và gia hạn nghĩa vụ tài chính có làm giảm nguồn lực ngân sách hay không?

Thực tế giai đoạn doanh nghiệp và người nộp thuế gặp nhiều khó khăn do Covid-19, Bộ Tài chính đã tham mưu, xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều chính sách hỗ trợ giảm thuế, phí. Theo ước tính, tổng quy mô các gói hỗ trợ giai đoạn 2020-2024 lên tới gần 900.000 tỷ đồng.

Theo Bộ Tài chính, một trong những mục tiêu quan trọng của các chính sách hỗ trợ là góp phần nuôi dưỡng nguồn thu. Trong giai đoạn 2021-2025, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt khoảng 9,9 triệu tỷ đồng, gấp 1,43 lần giai đoạn 2016-2020. Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước đạt khoảng 18,8% GDP, trong đó thu từ thuế, phí đạt khoảng 14,7% GDP. Tỷ trọng thu nội địa đến năm 2025 đạt trên 86% tổng thu ngân sách nhà nước.

Một doanh nghiệp nhỏ nếu duy trì được hoạt động có thể tiếp tục sử dụng lao động, mua nguyên liệu, thực hiện đơn hàng và tạo doanh thu. Khi quy mô hoạt động tăng lên, doanh nghiệp có thể chuyển sang một quy mô sản xuất lớn hơn, tiếp cận thị trường mới và phát sinh thêm các nghĩa vụ tài chính.

Từ góc độ đó, giảm thuế trước mắt không nhất thiết đồng nghĩa với giảm nguồn thu trong dài hạn. Đây là cơ sở của cách tiếp cận nuôi dưỡng nguồn thu: tạo điều kiện để khu vực sản xuất, kinh doanh duy trì và phát triển, qua đó mở rộng cơ sở thu trong những năm tiếp theo.

Một yếu tố khác của chính sách không nằm ở riêng mức giảm thuế, mà ở thời điểm chính sách được ban hành và khả năng doanh nghiệp chủ động tính toán.

Với doanh nghiệp, một chính sách được xác định rõ về đối tượng, mức hưởng và thời gian áp dụng cho phép đưa khoản tiết giảm dự kiến vào kế hoạch tài chính. Doanh nghiệp có thể tính toán lại dòng tiền, kế hoạch đầu tư hoặc chi phí vận hành trên cơ sở nghĩa vụ thuế thực tế. 

Tuy nhiên, chính sách thuế không thể thay thế năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Trở lại với câu chuyện của Ecopillo, doanh nghiệp vẫn phải tìm lời giải bài toán thị trường, nâng chất lượng sản phẩm, tìm kiếm khách hàng B2B, mở rộng hệ thống bán hàng và chuẩn bị cho khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Khoản thuế được giảm, nếu doanh nghiệp thuộc diện áp dụng và có phát sinh nghĩa vụ thuế, chỉ là một phần trong bài toán nguồn lực đó.

Điều này cũng cho thấy sự khác biệt giữa hỗ trợ của chính sách và năng lực nội tại của doanh nghiệp. Chính sách có thể giảm một phần nghĩa vụ hoặc tạo thêm thời gian để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ. Nhưng việc nguồn lực đó được sử dụng cho sản xuất, trả lương, đầu tư máy móc, mở rộng thị trường hay củng cố dòng tiền vẫn phụ thuộc vào quyết định và hiệu quả hoạt động của từng doanh nghiệp.

Ở cấp độ doanh nghiệp, khoản giảm thuế có thể giúp giảm nghĩa vụ tài chính đối với những đơn vị có phát sinh thuế phải nộp. 

Với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp thuộc những nhóm được miễn thuế, tác động đến từ việc loại bỏ hoặc giảm nghĩa vụ theo những tiêu chí khác. Với chính sách gia hạn, tác động chủ yếu nằm ở việc thay đổi thời điểm thực hiện nghĩa vụ và hỗ trợ dòng tiền trong một khoảng thời gian nhất định.

Các chính sách vì vậy có cơ chế khác nhau, nhưng cùng hướng tới việc tạo thêm dư địa cho người nộp thuế. Mỗi nguồn lực được giữ lại hoặc mỗi khoản chi phí được giảm đều có thể trở thành một phần trong bài toán tài chính của doanh nghiệp.

Ở quy mô rộng hơn, điều đáng chú ý của chính sách giảm 30% không chỉ là mức giảm đối với từng trường hợp cụ thể, mà còn ở độ bao phủ rộng của nhóm doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh thuộc ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng.

Đồng thời, khi đặt chính sách này cạnh các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế và giảm chi phí tuân thủ được triển khai từ đầu năm, có thể thấy chính sách tài khóa đang được sử dụng với nhiều công cụ khác nhau để hỗ trợ người nộp thuế.

Điều cần theo dõi trong thời gian tới là nguồn lực được để lại cho khu vực kinh doanh sẽ được chuyển hóa như thế nào vào hoạt động thực tế: duy trì sản xuất, việc làm, đầu tư, mở rộng thị trường hay nâng cao năng lực cạnh tranh. Mục tiêu của chính sách không chỉ là giảm một khoản nghĩa vụ trong một kỳ tính thuế. Quan trọng hơn là tạo điều kiện để doanh nghiệp có khả năng tiếp tục hoạt động, tích lũy và lớn lên về quy mô.

Thúy Nga - Trang Nhung