![]() |
| Ông Trương Bá Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, phí và lệ phí làm rõ đề xuất tính thuế với đất bỏ hoang. Ảnh: Minh Đức. |
Trao đổi với báo chí ngày 6/10 về đề xuất tính thuế đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng, ông Tuấn cho biết, đề xuất mức thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng nhằm cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng và Nhà nước, trong đó có Nghị quyết 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về định hướng sửa đổi, bổ sung một số chính sách liên quan đến đất đai.
Nghị quyết này đặt ra chủ trương cần có chính sách thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng.
Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ dự án luật sửa đổi 3 luật, trong đó có Luật thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp.
“Hiện mức thuế suất có sự phân biệt giữa đất trong hạn mức với thuế suất 0,03%, còn đất vượt 3 lần hạn mức thì áp dụng mức tối đa 0,15%. Vì vậy, chúng tôi xác định và trình Chính phủ mức thuế suất cao hơn là 0,2% đối với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng”, ông Tuấn nói.
Về căn cứ xác định thế nào là đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng hoặc không đưa vào sử dụng, ông Tuấn cho biết, đây là nội dung được thảo luận kỹ trong quá trình xây dựng chính sách.
Theo Thông báo 574 ngày 28/9 của Thường trực Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao quy định rõ tiêu chí, khái niệm để xác định đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.
Đây sẽ là căn cứ để áp dụng chính sách thuế. “Như vậy, tiêu chí để xác định đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng sẽ được xác định theo quy định của Luật Đất đai”, ông Tuấn thông tin.
Đại diện Vụ Chính sách thuế, phí và lệ phí cũng cho biết, thời gian tới, khi thực hiện Luật Đất đai sửa đổi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ quy định cụ thể hơn về tiêu chí, căn cứ xác định thế nào là đất bỏ hoang, đất không sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng để làm cơ sở áp dụng chính sách thuế trên thực tế.
Tại dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN, Luật thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật thuế TNCN, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung quy định về thuế suất đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng. Đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng thực hiện theo quy định pháp luật về đất đai.
Theo đề xuất, đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng áp dụng mức thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức.
Luật thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành áp dụng thuế suất đối với đất ở theo biểu thuế lũy tiến từng phần, với mức thuế suất 0,03% đối với diện tích đất trong hạn mức; 0,07% đối với diện tích đất từ trên 1 đến 3 lần hạn mức và 0,15% đối với phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức.
Đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thuế suất là 0,03%. Đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định chịu thuế suất 0,15%, còn đất lấn, chiếm chịu thuế suất 0,2%.
Tuy nhiên, Luật hiện hành chưa có quy định về mức thuế suất đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.
Do vậy, việc bổ sung quy định này nhằm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 khắc phục tình trạng sử dụng đất lãng phí, đất bỏ hoang. Điều này góp phần khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả.
Ngoài quy định này, dự án luật còn bổ sung quy định trường hợp miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của cơ sở giáo dục. Điều 9 Luật thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp quy định miễn thuế đối với đất của cơ sở thực hiện xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Thực tế cho thấy, chính sách miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với các cơ sở giáo dục trong lĩnh vực giáo dục đã đạt nhiều kết quả tích cực.
Hiện, số lượng cơ sở giáo dục ngoài công lập phát triển nhanh chóng, đặc biệt là bậc học mầm non. Để tạo đột phá về nguồn lực, động lực và không gian mới cho phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, Nghị quyết số 71-NQ/TW đã xác định bổ sung các quy định không thu… tiền thuế đất đối với các cơ sở giáo dục trong nước.