![]() |
| Mặt hàng khoáng sản. |
Nghị định số 201/2026/NĐ-CP thực hiện việc sửa đổi, bổ sung thuế suất thuế xuất khẩu của một số mặt hàng tại Biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP, chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 23/7/2026.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Theo Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 201/2026/NĐ-CP, mức thuế suất thuế xuất khẩu mới áp dụng cho nhóm mặt hàng khoáng sản và kim loại có sự điều chỉnh cụ thể.
Đối với nhóm mã hàng 25.29 bao gồm tràng thạch (đá bồ tát), loxit (leucite), nephelin và nephelin xienit, khoáng fluorite, mức thuế suất 10% được áp dụng cho mã hàng 2529.10.10 về potash tràng thạch và soda tràng thạch, mã hàng 2529.10.90 đối với các loại tràng thạch khác, mã hàng 2529.21.00 đối với khoáng fluorite có chứa canxi florua không quá 97% tính theo khối lượng, cùng mã hàng 2529.30.00 đối với loxit, nephelin và nephelin xienit.
Riêng mã hàng 2529.22.00 là khoáng fluorite có chứa canxi florua trên 97% tính theo khối lượng sẽ chịu mức thuế suất là 5%.
Đối với nhóm mã hàng 81.06 về bismut và các sản phẩm làm từ bismut, kể cả phế liệu và mảnh vụn, mức thuế suất cao nhất 22% được áp dụng cho các mã hàng 8106.10.10.10 và 8106.90.10.10 thuộc diện phế liệu và mảnh vụn. Mức thuế suất 5% được áp dụng cho các mã hàng loại khác bao gồm 8106.10.10.90, 8106.10.90.90, 8106.90.10.90 và 8106.90.90.90.
Đáng chú ý, các sản phẩm bismut xi măng được hưởng mức thuế suất ưu đãi tuyệt đối là 0%. Chính sách này áp dụng cụ thể cho mã hàng 8106.10.10.20 đối với bismut xi măng dạng bột, mã hàng 8106.10.90.20 đối với bismut xi măng dạng bánh, mã hàng 8106.90.10.20 đối với bismut xi măng dạng bột chứa hàm lượng Bi trên 70% và không quá 99,99% tính theo khối lượng, và mã hàng 8106.90.90.20 đối với bismut xi măng dạng bánh chứa hàm lượng bi trên 70% và không quá 99,99% tính theo khối lượng.
Về quy chuẩn kỹ thuật, các mặt hàng bismut xi măng thuộc các mã hưởng thuế suất 0% nêu trên phải là sản phẩm dạng bột với kích thước nhỏ hơn 0,1mm hoặc dạng bánh, có hàm lượng Bi trên 70%, có lẫn các tạp chất như sắt, đồng, lưu huỳnh với màu sắc đặc trưng từ xám đậm đến xám đen.
Quy trình sản xuất ra sản phẩm này phải đáp ứng các công đoạn kỹ thuật nghiêm ngặt. Ban đầu, bismut xi măng được thu hồi từ các khoáng vật chứa bismut có trong quặng nguyên khai với hàm lượng bi khoảng 0,05% đến 0,1%, trải qua hệ thống đập và nghiền mịn để đưa vào quá trình tuyển nổi nhằm thu được tinh quặng bismut có hàm lượng khoảng 9% đến 11%.
Tiếp theo, tinh quặng bismut được đưa đi hòa tách bằng phương pháp ngâm chiết trong môi trường axit H2SO4 có bổ sung NaCl. Sản phẩm sau hòa tách được lắng và lọc để thu được dung dịch BiCl3, sau đó dung dịch này được khử tạp chất nhằm đảm bảo độ sạch.
Dung dịch BiCl3 sạch tiếp tục trải qua quá trình xi măng hóa, tức là kết tủa bằng cách thêm bột kim loại kẽm hoặc sắt, thông thường thực tế sử dụng sắt, để sắt khử bismut khỏi muối BiCl3 và tạo thành kết tủa dưới dạng bột bismut.
Cuối cùng, bột bismut thu được sẽ được tinh chế, lọc và rửa sạch để cho ra sản phẩm bismut xi măng hoàn chỉnh có dạng bột hoặc bánh với hàm lượng bi trên 70% và kích thước hạt dưới 0,1mm.
Trong trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ về sản phẩm xuất khẩu, cơ quan chức năng sẽ tiến hành hậu kiểm theo quy định hiện hành để xác định rõ nguồn gốc xuất xứ, quy trình sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm.
Bên cạnh việc điều chỉnh thuế suất, Điều 2 của Nghị định số 201/2026/NĐ-CP cũng thực hiện thay thế một số cụm từ liên quan đến các cơ quan quản lý chuyên ngành tại Nghị định số 26/2023/NĐ-CP trước đó.
Theo đó, cụm từ “Bộ Kế hoạch và Đầu tư” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Tài chính” tại khoản 1 Điều 6, điểm a.1 khoản 3 Điều 8, điểm c.2 khoản 3 Điều 9, khoản 2 Điều 11, điểm b.1.1 và điểm b.9.1 khoản 2.2 Mục II Phụ lục II.
Đồng thời, cụm từ “Bộ Giao thông vận tải” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Xây dựng” tại điểm b.4 khoản 2.2 Mục II Phụ lục II.
Cuối cùng, cụm từ “Bộ Thông tin và Truyền thông” được thay thế bằng cụm từ “Bộ Khoa học và Công nghệ” tại điểm b.8 khoản 2.2 Mục II Phụ lục II, bao gồm cả các biểu mẫu số 3 và mẫu số 4 đính kèm.