![]() |
| Chủ quản nền tảng thuộc phạm vi điều chỉnh, có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán, thực hiện khấu trừ, kê khai, nộp thuế thay đối với các giao dịch phát sinh theo quy định. Ảnh minh họa: Thu Hiền. |
Từ ngày 1/7/2025, cơ chế khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay đối với hộ, cá nhân kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử (TMĐT), nền tảng số được triển khai theo Nghị định số 117/2025/NĐ-CP. Theo đó, chủ quản nền tảng thuộc phạm vi điều chỉnh, có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán, thực hiện khấu trừ, kê khai, nộp thuế thay đối với các giao dịch phát sinh theo quy định.
Cơ chế này tiếp tục được hoàn thiện tại Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, thay thế Nghị định số 117/2025/NĐ-CP. Việc đưa nền tảng tham gia trực tiếp vào quá trình giúp nghĩa vụ thuế được thực hiện gần hơn với thời điểm phát sinh giao dịch, đồng thời giảm bớt thao tác kê khai, nộp thuế của người bán đối với phần doanh thu thuộc trách nhiệm thực hiện của nền tảng.
Theo bà Thái Thị Vân Anh, Giám đốc Chi nhánh TP. HCM, Công ty Russell Bedford KTC, thành viên Tiểu ban Thuế và Pháp luật, ACCA Việt Nam, cơ chế sàn TMĐT khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay là một bước tiến quan trọng trong hiện đại hóa công tác quản lý thuế đối với kinh tế số. Tuy nhiên, khi chuyển giao một phần trách nhiệm quản lý sang các nền tảng công nghệ, bài toán trọng tâm không chỉ dừng lại ở thu được bao nhiêu thuế, mà cốt lõi là thu đúng, thu đủ và xác định chính xác nghĩa vụ thuế thực tế của từng người bán.
| 7.468,2 tỷ đồng đã nộp ngân sách Theo Cục Thuế, lũy kế từ ngày 1/7/2025 đến khoảng giữa tháng 9/2026, các tổ chức quản lý sàn TMĐT đã khấu trừ, kê khai 8.071,9 tỷ đồng tiền thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh và nộp ngân sách nhà nước 7.468,2 tỷ đồng. Trong đó: 72 tổ chức quản lý sàn trong nước đã khấu trừ, kê khai 4.773,1 tỷ đồng và nộp ngân sách 4.767,6 tỷ đồng; 14 tổ chức quản lý sàn nước ngoài khấu trừ, kê khai 3.298,8 tỷ đồng và nộp ngân sách 2.700,7 tỷ đồng. |
Kết quả triển khai bước đầu cho thấy, cơ chế thu tại nguồn đang phát huy vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến, đồng thời phản ánh quy mô nghĩa vụ thuế được thực hiện thông qua cơ chế khấu trừ, kê khai và nộp thay.
Từ góc độ người nộp thuế, lợi ích của cơ chế thu tại nguồn không chỉ nằm ở việc giảm thao tác khi thực hiện, mà người kinh doanh còn có thể chủ động kiểm tra số thuế đã được nền tảng khấu trừ, đối chiếu với nghĩa vụ phát sinh và xác định những khoản thu nhập khác thuộc phạm vi phải thực hiện nghĩa vụ thuế.
Căn cứ quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, cơ quan Thuế xác định doanh thu tính thuế là tổng số tiền bán hàng phát sinh (bao gồm cả thuế nếu thuộc diện chịu thuế) mà người mua thanh toán cho đơn hàng, cùng các khoản cộng thêm như tiền thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, trợ giá hoặc phụ thu.
Đối với các đơn hàng bị hủy hoặc hoàn trả (người mua trả lại hàng), giao dịch không hoàn tất nên không được ghi nhận là doanh thu bán hàng. Nếu giao dịch đã hoàn thành nhưng sau đó phát sinh hoàn trả, sàn TMĐT hoặc cá nhân kinh doanh thực hiện điều chỉnh giảm doanh thu và bù trừ số thuế đã khấu trừ trong kỳ kê khai tiếp theo.
Ngoài ra, việc thực hiện hóa đơn điện tử cũng là vấn đề được nhiều hộ kinh doanh quan tâm khi cơ chế thu thuế qua nền tảng được triển khai do phát sinh thêm chi phí. Trường hợp điển hình với một kinh doanh vừa phân phối, vừa bán lẻ văn phòng phẩm trên địa bàn TP. Hà Nội cho biết, cửa hàng có thể phát sinh 100-200 đơn hàng mỗi ngày, trong đó có những đơn hàng giá trị chỉ khoảng 7.000-8.000 đồng.
Theo người bán, việc phải thực hiện hóa đơn điện tử với số lượng đơn hàng lớn, kết hợp chi phí dịch vụ kế toán khoảng 8,5 triệu đồng/tháng, làm gia tăng chi phí vận hành, đặc biệt đối với những mặt hàng có biên lợi nhuận thấp.
Trong khi đó, theo Nghị định số 141/2026/NĐ-CP, hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 1 tỷ đồng phải áp dụng hóa đơn điện tử theo quy định. Nghị định số 254/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, tiếp tục quy định về lập, quản lý và sử dụng hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử.
Liên quan đến vấn đề hóa đơn điện tử, tại hội thảo “Những quy định quan trọng khi triển khai chính sách thuế mới” tổ chức tháng 7/2026, ông Đặng Văn Thành, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế TMĐT (Cục Thuế) cho biết, nghĩa vụ khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay của sàn TMĐT là một quy định riêng, không thay thế nghĩa vụ về hóa đơn của hộ, cá nhân kinh doanh.
Thực tế trên cho thấy, để cơ chế thu thuế qua nền tảng phát huy hiệu quả, cần tăng cường kết nối dữ liệu giao dịch giữa sàn TMĐT và hệ thống hóa đơn điện tử, đồng thời tạo thuận lợi cho người bán thực hiện hoặc ủy nhiệm lập hóa đơn theo quy định. Việc đồng bộ thông tin không chỉ giúp hạn chế thao tác trùng lặp, giảm chi phí tuân thủ mà còn bảo đảm dữ liệu hóa đơn và số thuế đã khấu trừ, nộp thay được đối chiếu chính xác, nhất quán.
![]() |
| Mở rộng quản lý nghĩa vụ thuế của các chủ thể nước ngoài có phát sinh doanh thu tại Việt Nam. Ảnh minh họa: Thu Hiền. |
Từ hoạt động kinh doanh trong nước, vai trò của nền tảng TMĐT đang được mở rộng trong quản lý nghĩa vụ thuế của các chủ thể nước ngoài có phát sinh doanh thu tại Việt Nam. Để quản lý đúng bản chất giao dịch, cần phân biệt dịch vụ số do nhà cung cấp nước ngoài (NCCNN) cung cấp vào Việt Nam với hàng hóa được mua bán thông qua nền tảng TMĐT nước ngoài.
Bà Lê Hoàng Oanh, Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương) cho biết, Luật Thương mại điện tử dành riêng một chương quy định về hoạt động thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài. Theo bà Lê Hoàng Oanh, các quy định này hướng tới xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể trong nước và nước ngoài, đồng thời tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch xuyên biên giới.
Đối với dịch vụ số, nhà cung cấp có thể cung cấp phần mềm, quảng cáo trực tuyến, nội dung số hoặc các dịch vụ thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử, có thể phát sinh doanh thu tại Việt Nam mà không cần có hàng hóa vật chất được vận chuyển qua biên giới.
| 281 nhà cung cấp nước ngoài đăng ký thuế qua cổng điện tử Theo Cục Thuế, trong 8 tháng năm 2026, có 281 NCCNN đã đăng ký, kê khai và nộp thuế qua Cổng thông tin điện tử; số thuế ước thực hiện đạt hơn 18,13 nghìn tỷ đồng. |
Trong trường hợp này, quản lý thuế tập trung vào xác định nhà cung cấp, doanh thu phát sinh tại Việt Nam, phương thức thanh toán và nghĩa vụ thuế tương ứng theo quy định.
Đối với hàng hóa được mua bán qua nền tảng nước ngoài, chuỗi giao dịch còn có thể bao gồm người bán ở nước ngoài, nền tảng trung gian, đơn vị thanh toán, vận chuyển và người nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam.
Bên cạnh nghĩa vụ thuế của NCCNN đối với hoạt động kinh doanh phát sinh doanh thu tại Việt Nam, hàng hóa nhập khẩu còn phải được xem xét về chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng tại khâu nhập khẩu và những nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật. Do đó, việc nền tảng đã khấu trừ, nộp thay một khoản thuế không đồng nghĩa mọi nghĩa vụ thuế liên quan đến hàng hóa nhập khẩu hoặc các chủ thể tham gia giao dịch đã được hoàn thành.
Theo nhận định của cơ quan Thuế, khó khăn lớn trong quản lý TMĐT xuyên biên giới hiện nay là xác định đầy đủ NCCNN có phát sinh doanh thu tại Việt Nam, doanh thu thực tế và nghĩa vụ thuế phải thực hiện.
Do nhiều nhà cung cấp không có cơ sở thường trú, văn phòng đại diện hoặc hiện diện vật lý tại Việt Nam, hoạt động chủ yếu trên môi trường số, dữ liệu giao dịch và dòng tiền có thể phân tán qua nhiều nền tảng, ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán và quốc gia khác nhau.
Tình trạng này chính là “rào cản” việc phát hiện nhà cung cấp chưa đăng ký, kê khai; thu thập thông tin, đối chiếu dữ liệu và xác định chính xác nghĩa vụ thuế phát sinh tại Việt Nam.
Để khắc phục hạn chế vừa nêu, Chi cục Thuế TMĐT đã tăng cường rà soát dữ liệu từ internet, kho ứng dụng, nền tảng và thông tin thị trường; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành, ngân hàng và tổ chức trung gian thanh toán để thu thập, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý thuế.
Đồng thời, cơ quan Thuế đang từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh, doanh thu và nghĩa vụ thuế của NCCNN, chuyển từ phương thức quản lý chủ yếu dựa trên thông tin tự kê khai sang quản lý dựa trên dữ liệu và phân tích rủi ro.
Theo luật sư Nguyễn Văn Nghĩa, Đoàn luật sư TP. Hà Nội, trường hợp NCCNN, nền tảng xuyên biên giới tiếp tục không chấp hành nghĩa vụ sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, cần phối hợp thực hiện các biện pháp quản lý phù hợp, trong đó có thể áp dụng biện pháp hạn chế hoạt động hoặc chặn truy cập theo quy định Luật TMĐT số 122/2025/QH15 (khoản 1 Điều 39) và Nghị định số 147/2024/NĐ-CP (Điều 23, Điều 79).
Đáng chú ý, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện trách nhiệm khấu trừ, nộp thuế thay đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số. Nghị định bổ sung quy định về việc chủ quản nền tảng TMĐT, nền tảng số có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thay thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với những giao dịch phát sinh doanh thu tại Việt Nam của tổ chức nước ngoài thuộc trường hợp quy định.
NCCNN có hoạt động kinh doanh trên nền tảng TMĐT với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam, có doanh thu từ Việt Nam chưa được tổ chức kinh doanh tại Việt Nam, chủ quản nền tảng TMĐT khấu trừ, kê khai, nộp thay có trách nhiệm trực tiếp đăng ký, khai thuế, nộp thuế thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế; cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế phải nộp cho chủ quản nền tảng TMĐT thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thay thuế và chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của Nghị định số 252/2026/NĐ-CP.
Quy định này góp phần mở rộng khả năng thực hiện nghĩa vụ thuế đối với NCCNN thông qua những nền tảng trực tiếp tham gia giao dịch và thanh toán.
Đối với NCCNN vừa trực tiếp đăng ký, kê khai, nộp thuế tại Việt Nam, vừa phát sinh giao dịch thuộc trường hợp nền tảng khấu trừ, nộp thay, dữ liệu phải được đối chiếu để xác định chính xác nghĩa vụ đã thực hiện, tránh ghi nhận trùng hoặc bỏ sót doanh thu.
Từ kết quả bước đầu của cơ chế thu thuế tại nguồn, vai trò của nền tảng TMĐT đang mở rộng từ cung cấp môi trường giao dịch sang trực tiếp tham gia thực hiện nghĩa vụ thuế.
Tuy nhiên, hiệu quả lâu dài của cơ chế này không chỉ được đánh giá bằng số thu ngân sách, mà còn ở khả năng xử lý chính xác giao dịch, giảm chi phí tuân thủ và hỗ trợ người nộp thuế giải trình, điều chỉnh sai lệch. Đối với hoạt động xuyên biên giới, việc phân định rõ trách nhiệm và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý sẽ góp phần bảo đảm nghĩa vụ thuế được thực hiện đầy đủ, công bằng giữa các chủ thể trong nước và nước ngoài.