![]() |
| Cần phân biệt doanh thu, số tiền thực nhận và lợi nhuận khi xác định nghĩa vụ thuế. Ảnh minh họa: Thu Hiền. |
Chị Hoàng Thu Thủy, chủ hộ kinh doanh nguyên liệu làm bánh và pha chế đồ uống tại xã Ô Diên, Hà Nội cho biết, doanh thu của cửa hàng khoảng 6 tỷ đồng/năm, chủ yếu đến từ các sàn thương mại điện tử (TMĐT). Tuy nhiên, lợi nhuận thực tế sau khi trừ chi phí chỉ còn khoảng 3-4% doanh thu.
Theo chị Thủy, tổng các khoản chi phí liên quan đến hoạt động bán hàng trên sàn có thời điểm lên tới gần 40%, cùng với chi phí nhập hàng và vận hành, những khoản phí này khiến số tiền cuối cùng cửa hàng thu được thấp hơn đáng kể so với doanh thu bán hàng.
Trường hợp trên phản ánh thực tế chênh lệch giữa doanh thu và lợi nhuận thực tế của một hộ kinh doanh trên nền tảng TMĐT. Đồng thời là ví dụ cho thấy doanh thu, số tiền thực nhận và lợi nhuận là những chỉ tiêu khác nhau, cần được phân biệt khi xác định nghĩa vụ thuế.
Theo bà Nguyễn Thị Minh Khuê, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Sapo, việc tổng hợp doanh thu và chi phí của người bán hàng đa kênh sẽ gặp nhiều khó khăn nếu thực hiện thủ công, đặc biệt khi mỗi ngày phát sinh hàng trăm, thậm chí hàng nghìn đơn hàng. Doanh thu cần được xác định đúng bản chất, thay vì nhầm lẫn với số tiền thực nhận hoặc thời điểm nhận tiền.
Bởi vậy, nếu chỉ căn cứ vào số tiền thực chuyển cho người bán để xác định doanh thu, cơ quan quản lý có thể bỏ sót phần doanh thu đã được sử dụng để thanh toán các khoản chi phí. Ngược lại, nếu mặc nhiên coi toàn bộ giá trị đơn hàng ban đầu là doanh thu tính thuế, những giao dịch bị hủy, giảm giá hoặc hoàn trả có thể không được phản ánh chính xác.
Trên thực tế, Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định doanh thu của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được xác định trên cơ sở toàn bộ tiền bán hàng, gia công, cung ứng dịch vụ và các khoản thu liên quan đến hoạt động kinh doanh mà người nộp thuế được hưởng theo quy định.
Bên cạnh đó, cơ quan Thuế cho biết, doanh thu tính thuế không phải là số tiền thực nhận sau khi nền tảng đã trừ các khoản chi phí như phí dịch vụ, phí thanh toán và phí vận chuyển. Đối với đơn hàng bị hủy hoặc hàng bán bị trả lại, doanh thu cần được xác định, điều chỉnh tương ứng với giao dịch thực tế.
Nghị định số 68/2026/NĐ-CP cũng phân biệt các khoản thu liên quan đến hoạt động kinh doanh với chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. Vì vậy, việc xác định doanh thu phải căn cứ vào bản chất của từng khoản thu, khoản điều chỉnh và quy định áp dụng đối với từng sắc thuế.
Đáng chú ý, cơ chế tính thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh đã có những thay đổi quan trọng trong năm 2026.
| Giảm 30% thuế thu nhập đối với người kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng
|
Theo Nghị định số 141/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, ngưỡng doanh thu năm không phải chịu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được nâng lên 1 tỷ đồng, áp dụng từ ngày 1/1/2026. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên ngưỡng này, việc xác định số thuế phải nộp tiếp tục căn cứ vào quy định của từng sắc thuế và phương pháp tính thuế tương ứng.
Theo quy định về thuế TNCN, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng được lựa chọn phương pháp tính thuế theo quy định. Đối với trường hợp thuộc diện tính thuế trên thu nhập, việc xác định thu nhập tính thuế phải căn cứ vào doanh thu và các khoản chi phí được trừ theo quy định pháp luật.
Như vậy, doanh thu bán hàng không đồng nghĩa với thu nhập chịu thuế, nhưng cũng không thể lấy số tiền còn lại sau khi nền tảng trừ phí để thay thế doanh thu tính thuế trong mọi trường hợp.
Việc xác định chính xác doanh thu còn có ý nghĩa trực tiếp đối với chính sách giảm thuế mới được ban hành theo Nghị quyết số 43/2026/QH16. Chính sách này không có nghĩa người kinh doanh được giảm 30% doanh thu làm căn cứ tính thuế, cũng không đồng nghĩa giảm 30% mọi khoản thuế phát sinh. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh, số thuế được giảm là thuế TNCN phải nộp theo phạm vi và điều kiện của Nghị quyết.
Do đó, việc xác định đúng doanh thu không chỉ phục vụ chống thất thu mà còn là căn cứ để người nộp thuế được áp dụng chính sách hỗ trợ phù hợp.
![]() |
| Không thể mặc nhiên đồng nhất toàn bộ số tiền ghi có trên tài khoản ngân hàng với doanh thu tính thuế. Ảnh: Thu Hiền. |
Thách thức trong xác định doanh thu đối với hoạt động kinh doanh TMĐT không chỉ nằm ở những khoản chênh lệch trên từng đơn hàng, mà còn ở việc tổng hợp doanh thu từ nhiều kênh kinh doanh.
Nếu người bán sử dụng nhiều tài khoản ngân hàng, dữ liệu dòng tiền còn có thể bao gồm những khoản chuyển tiền nội bộ, tiền vay, khoản hoàn trả hoặc các giao dịch không thuộc hoạt động kinh doanh; do đó không thể mặc nhiên đồng nhất toàn bộ số tiền ghi có trên tài khoản ngân hàng với doanh thu tính thuế.
Theo Cục Thuế, trong trường hợp phát hiện sai lệch giữa doanh thu kê khai và doanh thu thu thập từ các nguồn, người bán cần đối soát chi tiết từng khoản thu, phân biệt doanh thu kinh doanh với khoản thu hộ, chi hộ và những giao dịch phục vụ nhu cầu cá nhân. Đồng thời, cần lưu trữ chứng từ minh chứng (nếu có) như sao kê nhận tiền từ nền tảng TMĐT và đơn vị vận chuyển; báo cáo giao dịch hàng ngày, danh sách đơn hàng hoàn trả và biên lai các khoản phí sàn đã khấu trừ.
Điển hình với hộ, cá nhân kinh doanh tham gia chương trình tiếp thị liên kết (affiliate) trên nền tảng TMĐT Shopee, sàn này và đối tác thực hiện kiểm tra, đối soát khoản hoa hồng phát sinh theo chu kỳ thanh toán; đồng thời nêu trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thay thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với các giao dịch cung cấp dịch vụ affiliate thuộc phạm vi áp dụng theo quy định pháp luật.
Về phía cơ quan quản lý, cơ quan Thuế cho rằng, việc đối soát cần được thực hiện định kỳ giữa 3 nguồn: đơn hàng trên hệ thống/sàn TMĐT; dòng tiền thực tế nhận về tài khoản ngân hàng/tiền mặt và hóa đơn điện tử đã xuất để xác định chính xác nghĩa vụ thuế.
Bà Thái Thị Vân Anh, Giám đốc Chi nhánh TP. HCM, Công ty Russell Bedford KTC, thành viên Tiểu ban Thuế và Pháp luật, ACCA Việt Nam. |
Tuy nhiên, dữ liệu từ các nguồn trên không phải lúc nào cũng được ghi nhận cùng thời điểm. Một đơn hàng có thể hoàn tất vào cuối kỳ kê khai nhưng tiền được chuyển cho người bán trong kỳ tiếp theo; khoản hoàn trả cũng có thể phát sinh sau khi giao dịch đã được ghi nhận doanh thu và lập hóa đơn. Nếu không có mã giao dịch thống nhất, cùng một khoản doanh thu có thể xuất hiện nhiều lần trong dữ liệu của nền tảng, ngân hàng và hệ thống hóa đơn điện tử.
Ngược lại, trường hợp nhiều đơn hàng được nền tảng thanh toán gộp thành một lần chuyển tiền sẽ khiến việc đối chiếu từng giao dịch gặp khó khăn nếu bảng kê thanh toán không đủ chi tiết. Từ đó đòi hỏi phải chuẩn hóa thông tin từ khi phát sinh đơn hàng, xác định thời điểm hoàn tất giao dịch đến khi thanh toán, lập hóa đơn và thực hiện nghĩa vụ thuế.
Cục Thuế cho biết, hiện đã xây dựng công cụ tách riêng nguồn thuế được sàn TMĐT khấu trừ, kê khai và nộp thay với khoản thuế người nộp thuế tự kê khai, nộp bổ sung. Cơ quan Thuế cũng sử dụng thông tin từ sàn không có chức năng thanh toán, ngân hàng, đơn vị vận chuyển và trung gian thanh toán để rà soát doanh thu phát sinh, đối chiếu với số liệu kê khai và xác định nghĩa vụ thuế của người kinh doanh.
Từ góc độ người nộp thuế, để kiểm tra được tính chính xác của số liệu, cần có thông tin rõ ràng về doanh thu đã được nền tảng ghi nhận, số thuế đã khấu trừ và những khoản phải tự kê khai.
Đối với các hộ có hàng trăm đơn hàng mỗi ngày, nếu phải tự tổng hợp dữ liệu từ nhiều bảng kê khác nhau, việc đối soát có thể làm tăng đáng kể chi phí kế toán và thời gian thực hiện thủ tục. Khó khăn càng rõ hơn khi người bán phải thực hiện các nghĩa vụ trong bối cảnh chính sách thuế mới có nhiều thay đổi về ngưỡng doanh thu, phương pháp tính thuế và điều kiện áp dụng ưu đãi.
Để chính sách giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2026/QH16 thực sự phát huy hiệu quả, dữ liệu doanh thu cần đủ chính xác để xác định người nộp thuế có đáp ứng điều kiện hay không, đồng thời tránh việc cộng trùng những giao dịch đã được ghi nhận tại nhiều nguồn.
Đáng chú ý, vào tháng 9/2026, Bộ Tài chính đã công bố dự thảo Nghị định quy định chi tiết việc thực hiện Nghị quyết số 43/2026/QH16, trong đó đề xuất cơ chế kê khai giảm thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh và trường hợp tổ chức thực hiện khấu trừ, khai thay, nộp thay. Các nội dung về biểu mẫu và quy trình cụ thể cần được thực hiện theo văn bản chính thức được ban hành.
Bên cạnh yêu cầu thu đúng, thu đủ, hệ thống quản lý còn phải tạo điều kiện để người kinh doanh được hưởng đúng chính sách giảm thuế và điều chỉnh kịp thời khi có sai lệch dữ liệu.
Về lâu dài, việc xác định doanh thu tính thuế cần chuyển từ đối chiếu những con số tổng hợp sang quản lý theo bản chất từng giao dịch. Dữ liệu từ nền tảng, ngân hàng, đơn vị vận chuyển và hóa đơn điện tử phải được kết nối đủ chi tiết để phát hiện doanh thu chưa kê khai, đồng thời loại trừ các khoản không thuộc doanh thu kinh doanh.
Khi người nộp thuế có thể chủ động kiểm tra, giải trình và điều chỉnh sai lệch, cơ chế quản lý sẽ vừa nâng cao hiệu quả chống thất thu, vừa bảo đảm quyền lợi hợp pháp và giảm chi phí tuân thủ cho người bán hàng trực tuyến.
Còn tiếp: Bài 3 - Khi nền tảng thương mại số trở thành mắt xích thu thuế