Thứ tư 28/10/2026 02:55
Thời tiết: Hà Nội 26°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 24°C
Hải Phòng 25°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Chính sách và cuộc sống
aa

Từ tiền kiểm sang hậu kiểm: Luật Hải quan tăng vai trò của quản lý rủi ro và kiểm tra sau thông quan

Nụ Bùi
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 củng cố cơ sở pháp lý cho quản lý rủi ro, tạo điều kiện điều chỉnh mức độ kiểm tra theo từng trường hợp, giảm áp lực tại khâu thông quan và tăng vai trò của kiểm tra sau thông quan.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 xác định kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở quản lý rủi ro. Ảnh: Cục Hải quan
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 xác định kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở quản lý rủi ro. Ảnh: Cục Hải quan

Giảm kiểm tra dàn trải

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 xác định kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở quản lý rủi ro, qua đó tạo cơ sở để cơ quan Hải quan lựa chọn biện pháp kiểm tra phù hợp thay vì áp dụng cùng một mức độ kiểm soát đối với mọi lô hàng. Quản lý rủi ro được thực hiện từ việc xác định, đánh giá đến lựa chọn biện pháp kiểm tra, giám sát và kiểm tra sau thông quan.

Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào mức độ rủi ro của từng trường hợp. Những lô hàng không có dấu hiệu cần kiểm tra sâu có thể được xử lý theo phương thức phù hợp, trong khi nguồn lực kiểm tra được dành cho những trường hợp có dấu hiệu bất thường hoặc cần xác minh.

Với hoạt động xuất nhập khẩu, điều này có ý nghĩa trực tiếp đối với tốc độ lưu chuyển hàng hóa. Thời gian chờ kiểm tra tại cửa khẩu có thể tác động đến lịch vận chuyển, kế hoạch giao nhận và chi phí lưu kho, lưu bãi. Khi việc kiểm tra được lựa chọn có trọng tâm hơn, doanh nghiệp có điều kiện chủ động hơn trong tổ chức chuỗi cung ứng.

Ông Lê Viết Thương, đại diện Công ty TNHH Minh Mỹ cho biết, điều doanh nghiệp quan tâm là việc kiểm tra phải phù hợp với tính chất và mức độ rủi ro của từng lô hàng. Khi những trường hợp không có dấu hiệu bất thường được xử lý nhanh hơn, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn về lịch giao nhận, hạn chế thời gian hàng phải chờ tại cửa khẩu và giảm các chi phí phát sinh trong quá trình lưu giữ.

Về phía cơ quan Hải quan, giảm kiểm tra dàn trải cho phép nguồn lực được sử dụng có trọng tâm hơn. Thay vì dành thời gian và nhân lực cho những trường hợp không cần kiểm tra sâu, cơ quan Hải quan có thể tập trung vào những dấu hiệu cần xác minh, những phương thức hoặc lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ cao hơn.

Phát biểu tại Quốc hội ngày 23/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo Luật được chỉnh lý theo hướng hoàn thiện các quy định về quản lý rủi ro, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết những nội dung kỹ thuật để bảo đảm khả năng áp dụng trong thực tế.

Như vậy, thay đổi quan trọng không nằm ở việc giảm kiểm tra một cách đơn thuần mà ở cách phân bổ hoạt động kiểm tra theo mức độ rủi ro. Đây là cơ sở để vừa giảm áp lực tại cửa khẩu, vừa bảo đảm những trường hợp cần kiểm soát vẫn được cơ quan Hải quan tập trung nguồn lực xử lý.

Kiểm soát mạnh hơn nơi có dấu hiệu

Giảm kiểm tra trước thông quan đặt ra yêu cầu tăng khả năng kiểm soát ở các khâu tiếp theo. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 xác định kiểm tra sau thông quan là một trong những biện pháp quản lý được lựa chọn trên cơ sở rủi ro, tạo cơ sở để cơ quan Hải quan tiếp tục kiểm tra những trường hợp cần thiết sau khi hàng hóa đã được thông quan.

Hậu kiểm cho phép cơ quan Hải quan không nhất thiết phải giải quyết tất cả nội dung kiểm tra trong thời điểm hàng hóa đang chờ thông quan. Những vấn đề cần đối chiếu, xác minh hoặc đánh giá sâu có thể được thực hiện sau đó, khi cơ quan quản lý có điều kiện xem xét đầy đủ hơn hồ sơ và quá trình thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 xác định kiểm tra sau thông quan là một trong những biện pháp quản lý được lựa chọn trên cơ sở rủi ro. Ảnh: Cục Hải quan
Quản lý rủi ro sẽ tạo cơ sở để giảm kiểm tra dàn trải tại cửa khẩu, lựa chọn đúng trường hợp cần kiểm soát và tăng vai trò của hậu kiểm. Ảnh: Cục Hải quan

Đây là điểm quan trọng trong việc cân bằng hai yêu cầu: giải phóng hàng nhanh và kiểm soát chặt những trường hợp có dấu hiệu. Việc chuyển một phần trọng tâm kiểm tra sang sau thông quan giúp giảm áp lực tại cửa khẩu, nhưng không làm mất đi khả năng kiểm soát của cơ quan Hải quan.

TS. Nguyễn Minh Thảo, Phó Trưởng ban phụ trách, Ban Phát triển Doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, giảm tiền kiểm chỉ thực sự có ý nghĩa khi hậu kiểm đủ khả năng phát hiện và xử lý những vấn đề cần làm rõ. Cơ quan Hải quan không nhất thiết phải kiểm tra tất cả ngay tại cửa khẩu. Với những trường hợp chưa cần can thiệp, có thể giải phóng hàng trước và thực hiện kiểm tra sau thông quan khi có căn cứ. Cách làm này giúp hoạt động kiểm soát đi đúng vào những trường hợp cần thiết.

Đối với doanh nghiệp, hậu kiểm cũng tạo ra một thay đổi về cách thức chuẩn bị và lưu giữ hồ sơ. Khi hàng hóa đã được thông quan, doanh nghiệp vẫn phải bảo đảm các chứng từ và thông tin liên quan được lưu giữ đầy đủ, có thể cung cấp và giải trình khi cơ quan Hải quan thực hiện kiểm tra theo quy định.

Ở góc độ quản lý, ưu điểm của hậu kiểm là tạo thêm khoảng thời gian và không gian nghiệp vụ để thực hiện những cuộc kiểm tra cần đánh giá sâu. Những vấn đề phức tạp không nhất thiết phải được xử lý trong điều kiện hàng hóa đang chờ tại cửa khẩu, trong khi những trường hợp có dấu hiệu rõ vẫn có thể được kiểm soát theo các biện pháp phù hợp.

Định hướng cải cách của ngành Hải quan cũng đặt chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm cùng với mục tiêu giảm thời gian thông quan, giảm chi phí lưu kho, lưu bãi và tập trung nguồn lực vào những khâu, đối tượng, lĩnh vực có rủi ro.

Khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 01/3/2027, quản lý rủi ro sẽ tạo cơ sở để giảm kiểm tra dàn trải tại cửa khẩu, lựa chọn đúng trường hợp cần kiểm soát và tăng vai trò của hậu kiểm. Với doanh nghiệp, điều này góp phần rút ngắn thời gian xử lý những lô hàng không cần kiểm tra sâu; với cơ quan Hải quan, nguồn lực được tập trung hơn cho những trường hợp có dấu hiệu cần kiểm soát.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ký hợp đồng mua bán nhà đất trước 1/7/2026: Khi nào phải khai thuế?

Ký hợp đồng mua bán nhà đất trước 1/7/2026: Khi nào phải khai thuế?

Giao dịch chuyển nhượng nhà đất kéo dài qua ngày 1/7/2026 có thể phát sinh vướng mắc về thời hạn khai thuế thu nhập cá nhân (TNCN), nhất là khi bên mua nhận nộp thuế thay nhưng thủ tục sang tên chưa hoàn tất. Việc xác định đúng thời hạn khai và nộp thuế giúp người dân hạn chế nguy cơ vi phạm.
Số hóa thủ tục hải quan đối với hàng bưu chính, chuyển phát nhanh

Số hóa thủ tục hải quan đối với hàng bưu chính, chuyển phát nhanh

Từ ngày 16/11/2026, Thông tư số 142/2026/TT-BTC sửa đổi thủ tục hải quan đối với hàng bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế, với những thay đổi về khai báo điện tử, định danh và thu, nộp thuế.
Doanh nghiệp chế xuất chấm dứt dự án đầu tư không được hưởng chính sách thuế khu phi thuế quan

Doanh nghiệp chế xuất chấm dứt dự án đầu tư không được hưởng chính sách thuế khu phi thuế quan

Trường hợp doanh nghiệp chế xuất trong giai đoạn đầu tư chấm dứt dự án khi chưa đáp ứng điều kiện giám sát hải quan sẽ không được hưởng chính sách thuế dành cho khu phi thuế quan.
Cục Thuế hướng dẫn xác định hàng hóa được giảm thuế giá trị gia tăng

Cục Thuế hướng dẫn xác định hàng hóa được giảm thuế giá trị gia tăng

Cục Thuế hướng dẫn việc xác định hàng hóa thuộc diện giảm thuế giá trị gia tăng, trong đó sản phẩm mũi khoan xoay cầu được xác định thuộc đối tượng giảm thuế do không nằm trong danh mục hàng hóa, dịch vụ bị loại trừ theo quy định.
Từ ngày 1/11/2026: Giảm 50% phí khai thác dữ liệu tổng hợp quốc gia cho 6 nhóm đối tượng

Từ ngày 1/11/2026: Giảm 50% phí khai thác dữ liệu tổng hợp quốc gia cho 6 nhóm đối tượng

Theo quy định mới, sẽ có 6 nhóm đối tượng được giảm 50% phí khi khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia.
Cách ghi hóa đơn với dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng

Cách ghi hóa đơn với dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng

Theo hướng dẫn của Cục Thuế, hàng hóa, dịch vụ cung cấp không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thuế giá trị gia tăng (GTGT), người bán ghi “KTPVDC” tại nội dung thuế suất trên hóa đơn điện tử.
Cục Thuế làm rõ đầu mối quản lý khoản thu từ nghĩa vụ nhà ở xã hội

Cục Thuế làm rõ đầu mối quản lý khoản thu từ nghĩa vụ nhà ở xã hội

Pháp luật quản lý thuế hiện hành chưa quy định cơ quan Thuế thực hiện quản lý thu đối với khoản tiền tương đương chi phí đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong cơ chế thực hiện nghĩa vụ nhà ở xã hội.
Hàng nhập khẩu bị lỗi tái xuất không được hoàn thuế giá trị gia tăng

Hàng nhập khẩu bị lỗi tái xuất không được hoàn thuế giá trị gia tăng

Hàng nhập khẩu sau đó xuất trả chủ hàng nước ngoài, có tờ khai xuất khẩu đăng ký từ ngày 1/7/2025, không được hoàn thuế giá trị gia tăng nộp thừa.
Tái cấu trúc 4 thủ tục hải quan dựa trên dữ liệu

Tái cấu trúc 4 thủ tục hải quan dựa trên dữ liệu

Bộ Tài chính công bố 4 thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan được tái cấu trúc dựa trên dữ liệu, trong đó có nội dung thay thế hoặc cắt giảm thành phần hồ sơ theo điều kiện quy định.
Thời điểm lập hóa đơn đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt

Thời điểm lập hóa đơn đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt

Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt, thì thời điểm lập hóa đơn là khi nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình hoặc khối lượng hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa.
Xác định thuế GTGT đối với dịch vụ hỗ trợ vận tải quốc tế thực hiện ở nước ngoài

Xác định thuế GTGT đối với dịch vụ hỗ trợ vận tải quốc tế thực hiện ở nước ngoài

Dịch vụ hỗ trợ vận tải quốc tế như làm hàng, hải quan, bốc xếp, nâng hạ, đóng gói nếu được thực hiện ở nước ngoài, không sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT).
Chuẩn hóa quy trình thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu

Chuẩn hóa quy trình thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 184/2015/TT-BTC và Thông tư số 51/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định cụ thể hơn về phương thức thu, nộp thuế điện tử, xử lý chứng từ và trách nhiệm phối hợp giữa các bên liên quan. Đây là cơ sở để hoàn thiện quy trình thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Hợp tác xã được giảm 50% tiền thuê đất theo quy định nào?

Hợp tác xã được giảm 50% tiền thuê đất theo quy định nào?

Cục Thuế vừa có văn bản hướng dẫn về chính sách giảm tiền thuê đất đối với hợp tác xã, trong đó lưu ý việc áp dụng quy định chuyển tiếp khi chính sách miễn, giảm tiền thuê đất thay đổi.
Điều kiện lập hóa đơn điện tử gộp đối với dịch vụ khám chữa bệnh

Điều kiện lập hóa đơn điện tử gộp đối với dịch vụ khám chữa bệnh

Cơ sở khám chữa bệnh được tổng hợp lập hóa đơn điện tử vào cuối ngày đối với các dịch vụ y tế phát sinh nếu có phần mềm quản lý, từng giao dịch được in phiếu thu và lưu trên hệ thống, đồng thời người bệnh không yêu cầu lấy hóa đơn riêng.
Xác định thuế giá trị gia tăng đối với gọng kính nhập khẩu khung kim loại titan

Xác định thuế giá trị gia tăng đối với gọng kính nhập khẩu khung kim loại titan

Cục Hải quan vừa có hướng dẫn cụ thể về vướng mắc của Công ty TNHH xuất nhập khẩu và thương mại Eureka trong việc xác định chính sách thuế giá trị gia tăng khi làm thủ tục nhập khẩu mặt hàng gọng kính đeo mắt và kính đeo mắt có chất liệu khung gọng bằng kim loại titan,