![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Phóng viên: Nhiều vụ thực phẩm giả, kém chất lượng chỉ được phát hiện sau khi đã lưu hành rộng rãi. Theo ông, đâu là điểm nghẽn khiến khâu hậu kiểm chưa theo kịp thị trường?
Ths. Luật sư Bùi Văn Đức: Theo tôi, điểm cần nhìn lại là phương thức quản lý hiện nay vẫn còn phân tán, trong khi một số khâu còn thiên về hồ sơ, thủ tục hơn là kiểm soát thực chất theo mức độ rủi ro và xuyên suốt vòng đời sản phẩm.
|
Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã quy định khá rõ về những hành vi bị cấm, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Nghị định số 15/2018/NĐ-CP cũng quy định về công bố sản phẩm, điều kiện an toàn thực phẩm, kiểm tra thực phẩm nhập khẩu, ghi nhãn và quảng cáo. Tuy nhiên, quy định chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng một cơ chế giám sát đủ nhanh và sát với diễn biến thị trường.
Thực tế, sản phẩm có thể hoàn tất các thủ tục cần thiết rồi nhanh chóng được đưa ra thị trường, kể cả qua sàn thương mại điện tử (TMĐT) và mạng xã hội. Nếu hậu kiểm không kịp thời, hàng vi phạm có thể đã được bán trên diện rộng trước khi cơ quan chức năng phát hiện và xử lý.
Một vấn đề khác là dữ liệu quản lý chưa được kết nối đầy đủ. Tờ trình sửa đổi Luật An toàn thực phẩm cũng đã chỉ ra rằng, việc chưa có cơ chế dữ liệu liên thông giữa đăng ký lưu hành, công bố, xuất nhập khẩu, truy xuất nguồn gốc, thanh tra, kiểm tra và giám sát. Khi dữ liệu còn phân tán, việc theo dõi một sản phẩm từ lúc sản xuất, lưu thông đến khi thu hồi sẽ gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, sửa Luật cần hướng mạnh hơn vào phòng ngừa và phát hiện sớm, thay vì chỉ xử lý khi vi phạm đã xảy ra. Muốn vậy, phải kết hợp quản lý theo nguy cơ với dữ liệu liên thông, qua đó giúp cơ quan quản lý theo sát sản phẩm trong suốt vòng đời và thu hẹp khoảng trống hậu kiểm.
Phóng viên: Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) chuyển hướng sang quản lý theo nguy cơ và tăng hậu kiểm, ông nghĩ sao về cách tiếp cận này?
Ths. Luật sư Bùi Văn Đức: Theo tôi, quản lý theo nguy cơ là hướng đi phù hợp, nhưng để phát huy hiệu quả cần được đặt trong một cơ chế kiểm soát đồng bộ. Trước hết, phải phân loại nguy cơ rõ ràng để xác định mức độ kiểm soát phù hợp; tiếp đó là hậu kiểm phải thực chất và chế tài đủ sức răn đe, để vi phạm không thể trở thành một phép tính có lợi.
Với những nhóm thực phẩm có nguy cơ cao như: sữa, sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm bổ sung, cần kiểm soát chặt từ sản xuất, công bố, lưu hành, quảng cáo đến thu hồi. Tăng hậu kiểm không có nghĩa là buông lỏng tiền kiểm; ngược lại, nhóm nguy cơ cao vẫn cần điều kiện sản xuất nghiêm ngặt và cơ chế giám sát xuyên suốt quá trình lưu thông.
Đặc biệt, hậu kiểm chỉ có ý nghĩa khi cơ quan quản lý có đủ công cụ để hành động kịp thời, từ chủ động lấy mẫu, kiểm tra đột xuất, truy xuất nguồn gốc đến yêu cầu thu hồi và xử phạt. Nếu xác suất bị phát hiện thấp, dữ liệu chưa liên thông, thu hồi chậm hoặc mức phạt thấp hơn lợi nhuận từ vi phạm thì sức răn đe sẽ không đủ.
Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là tăng hậu kiểm, mà phải làm cho hậu kiểm nhanh hơn, thực chất hơn và gắn với trách nhiệm rõ ràng. Khi đó, quản lý theo nguy cơ mới thực sự chuyển từ cách xử lý khi sự việc đã xảy ra sang chủ động phòng ngừa và ngăn chặn từ sớm.
Phóng viên: Thực phẩm giả, kém chất lượng được phát hiện bày bán ngày càng nhiều trên sàn TMĐT. Theo ông, cần phân định trách nhiệm thế nào giữa người bán, sàn TMĐT và cơ quan quản lý để ngăn vi phạm từ sớm và tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm?
Ths. Luật sư Bùi Văn Đức: Theo tôi, trước hết phải xác định rõ trách nhiệm theo từng mắt xích. Người đưa thực phẩm ra thị trường phải chịu trách nhiệm về chất lượng và an toàn của sản phẩm; sàn TMĐT phải có trách nhiệm kiểm soát điều kiện giao dịch trong phạm vi của mình; còn cơ quan quản lý có trách nhiệm giám sát, cảnh báo và xử lý, thu hồi kịp thời khi phát hiện vi phạm.
Trong đó, người bán và doanh nghiệp vẫn phải là chủ thể chịu trách nhiệm chính. Họ cần chứng minh được nguồn gốc sản phẩm, hồ sơ công bố hoặc đăng ký lưu hành, điều kiện bảo quản, nhãn hàng hóa, nội dung quảng cáo và chất lượng thực tế. Nghị định số 248/2026/NĐ-CP cũng quy định người bán trên sàn phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin và bảo đảm tính trung thực của thông tin về hàng hóa, dịch vụ đưa lên sàn.
Đối với thực phẩm nguy cơ cao, trách nhiệm của sàn cần được nâng lên tương xứng với vai trò của mình. Có thể yêu cầu thẩm tra người bán và hồ sơ pháp lý trước khi sản phẩm được hiển thị; đồng thời gắn mã định danh, lưu vết giao dịch, tiếp nhận phản ánh và có cơ chế gỡ bỏ sản phẩm vi phạm, khóa gian hàng tái phạm, cung cấp dữ liệu cho cơ quan quản lý khi cần thiết.
Điều quan trọng là trách nhiệm phải rõ từ trước khi sản phẩm được bán, thay vì chỉ xác định sau khi có vi phạm.
Phóng viên: Với những hành vi cố ý gian dối trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm, nhất là khi gây hậu quả nghiêm trọng sức khỏe cộng đồng, theo ông, chế tài cần được thiết kế thế nào để vừa nghiêm minh, vừa đủ sức răn đe?
Ths. Luật sư Bùi Văn Đức: Theo tôi, nguyên tắc cốt lõi là người vi phạm phải chịu cái giá lớn hơn lợi ích thu được từ hành vi vi phạm. Vì vậy, không nên chỉ nhìn vào mức phạt tiền, mà cần đồng thời tước bỏ lợi ích bất chính, buộc khắc phục hậu quả và xử lý hình sự kịp thời khi hành vi đủ dấu hiệu.
Pháp luật hiện hành đã có quy định xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm và một số vi phạm quy định về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, với những hành vi cố ý gian dối, thu lợi lớn nhưng chỉ bị xử phạt hành chính, sức răn đe có thể chưa tương xứng với tính chất và lợi ích mà người vi phạm thu được.
Do đó, Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) cần phân hóa chế tài theo tính chất, mức độ và hậu quả vi phạm. Những hành vi có chủ ý như sử dụng hồ sơ, phiếu kiểm nghiệm giả; khai sai thành phần; quảng cáo sai công dụng; che giấu nguồn gốc hoặc cố tình tái phạm cần được xử lý nghiêm hơn.
Bên cạnh tiền phạt, cần gắn chế tài với việc thu hồi lợi ích bất chính, buộc thu hồi và tiêu hủy sản phẩm không an toàn, đồng thời có biện pháp ngăn tổ chức, cá nhân vi phạm tiếp tục đưa sản phẩm ra thị trường trong thời hạn phù hợp.
Đặc biệt, cần xác định rõ ngưỡng chuyển từ xử lý hành chính sang hình sự. Với những vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng, ngộ độc trên diện rộng hoặc có tổ chức, có tính hệ thống, cơ quan chức năng cần kịp thời chuyển hồ sơ để xử lý theo quy định pháp luật.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!