Thứ sáu 28/08/2026 02:37
Thời tiết: Hà Nội 27°C
Đà Nẵng 29°C
Cà Mau 26°C
Hải Phòng 26°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách
aa

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm: Lấp khoảng trống hậu kiểm, ngăn thực phẩm giả

Ngô Kiến (Thực hiện)
Sữa giả, thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng liên tiếp bị phát hiện đang cho thấy những lỗ hổng không chỉ ở khâu cấp phép mà còn trong quá trình giám sát sau lưu thông. ThS. Luật sư Bùi Văn Đức, Phó Giám đốc Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ thuộc Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh cho rằng, hậu kiểm chưa đủ mạnh, dữ liệu quản lý thiếu liên thông và trách nhiệm còn phân tán đang tạo khoảng trống, đất sống cho thực phẩm giả, kém chất lượng. Theo ông, sửa đổi Luật An toàn thực phẩm cần chuyển mạnh sang kiểm soát xuyên suốt vòng đời sản phẩm, đồng thời làm rõ trách nhiệm và tăng năng lực quản lý trên môi trường số.
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm: Lấp khoảng trống hậu kiểm, ngăn thực phẩm giả
Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI.

Phóng viên: Nhiều vụ thực phẩm giả, kém chất lượng chỉ được phát hiện sau khi đã lưu hành rộng rãi. Theo ông, đâu là điểm nghẽn khiến khâu hậu kiểm chưa theo kịp thị trường?

Ths. Luật sư Bùi Văn Đức: Theo tôi, điểm cần nhìn lại là phương thức quản lý hiện nay vẫn còn phân tán, trong khi một số khâu còn thiên về hồ sơ, thủ tục hơn là kiểm soát thực chất theo mức độ rủi ro và xuyên suốt vòng đời sản phẩm.

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm: Lấp khoảng trống hậu kiểm, ngăn thực phẩm giả

Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) cần phân hóa chế tài theo tính chất, mức độ và hậu quả vi phạm. Những hành vi có chủ ý như sử dụng hồ sơ, phiếu kiểm nghiệm giả; khai sai thành phần; quảng cáo sai công dụng; che giấu nguồn gốc hoặc cố tình tái phạm cần được xử lý nghiêm hơn.

Ths. Luật sư Bùi Văn Đức

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã quy định khá rõ về những hành vi bị cấm, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Nghị định số 15/2018/NĐ-CP cũng quy định về công bố sản phẩm, điều kiện an toàn thực phẩm, kiểm tra thực phẩm nhập khẩu, ghi nhãn và quảng cáo. Tuy nhiên, quy định chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng một cơ chế giám sát đủ nhanh và sát với diễn biến thị trường.

Thực tế, sản phẩm có thể hoàn tất các thủ tục cần thiết rồi nhanh chóng được đưa ra thị trường, kể cả qua sàn thương mại điện tử (TMĐT) và mạng xã hội. Nếu hậu kiểm không kịp thời, hàng vi phạm có thể đã được bán trên diện rộng trước khi cơ quan chức năng phát hiện và xử lý.

Một vấn đề khác là dữ liệu quản lý chưa được kết nối đầy đủ. Tờ trình sửa đổi Luật An toàn thực phẩm cũng đã chỉ ra rằng, việc chưa có cơ chế dữ liệu liên thông giữa đăng ký lưu hành, công bố, xuất nhập khẩu, truy xuất nguồn gốc, thanh tra, kiểm tra và giám sát. Khi dữ liệu còn phân tán, việc theo dõi một sản phẩm từ lúc sản xuất, lưu thông đến khi thu hồi sẽ gặp nhiều khó khăn.

Vì vậy, sửa Luật cần hướng mạnh hơn vào phòng ngừa và phát hiện sớm, thay vì chỉ xử lý khi vi phạm đã xảy ra. Muốn vậy, phải kết hợp quản lý theo nguy cơ với dữ liệu liên thông, qua đó giúp cơ quan quản lý theo sát sản phẩm trong suốt vòng đời và thu hẹp khoảng trống hậu kiểm.

Phóng viên: Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) chuyển hướng sang quản lý theo nguy cơ và tăng hậu kiểm, ông nghĩ sao về cách tiếp cận này?

Ths. Luật sư Bùi Văn Đức: Theo tôi, quản lý theo nguy cơ là hướng đi phù hợp, nhưng để phát huy hiệu quả cần được đặt trong một cơ chế kiểm soát đồng bộ. Trước hết, phải phân loại nguy cơ rõ ràng để xác định mức độ kiểm soát phù hợp; tiếp đó là hậu kiểm phải thực chất và chế tài đủ sức răn đe, để vi phạm không thể trở thành một phép tính có lợi.

Với những nhóm thực phẩm có nguy cơ cao như: sữa, sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm bổ sung, cần kiểm soát chặt từ sản xuất, công bố, lưu hành, quảng cáo đến thu hồi. Tăng hậu kiểm không có nghĩa là buông lỏng tiền kiểm; ngược lại, nhóm nguy cơ cao vẫn cần điều kiện sản xuất nghiêm ngặt và cơ chế giám sát xuyên suốt quá trình lưu thông.

Đặc biệt, hậu kiểm chỉ có ý nghĩa khi cơ quan quản lý có đủ công cụ để hành động kịp thời, từ chủ động lấy mẫu, kiểm tra đột xuất, truy xuất nguồn gốc đến yêu cầu thu hồi và xử phạt. Nếu xác suất bị phát hiện thấp, dữ liệu chưa liên thông, thu hồi chậm hoặc mức phạt thấp hơn lợi nhuận từ vi phạm thì sức răn đe sẽ không đủ.

Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là tăng hậu kiểm, mà phải làm cho hậu kiểm nhanh hơn, thực chất hơn và gắn với trách nhiệm rõ ràng. Khi đó, quản lý theo nguy cơ mới thực sự chuyển từ cách xử lý khi sự việc đã xảy ra sang chủ động phòng ngừa và ngăn chặn từ sớm.

Phóng viên: Thực phẩm giả, kém chất lượng được phát hiện bày bán ngày càng nhiều trên sàn TMĐT. Theo ông, cần phân định trách nhiệm thế nào giữa người bán, sàn TMĐT và cơ quan quản lý để ngăn vi phạm từ sớm và tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm?

Ths. Luật sư Bùi Văn Đức: Theo tôi, trước hết phải xác định rõ trách nhiệm theo từng mắt xích. Người đưa thực phẩm ra thị trường phải chịu trách nhiệm về chất lượng và an toàn của sản phẩm; sàn TMĐT phải có trách nhiệm kiểm soát điều kiện giao dịch trong phạm vi của mình; còn cơ quan quản lý có trách nhiệm giám sát, cảnh báo và xử lý, thu hồi kịp thời khi phát hiện vi phạm.

Trong đó, người bán và doanh nghiệp vẫn phải là chủ thể chịu trách nhiệm chính. Họ cần chứng minh được nguồn gốc sản phẩm, hồ sơ công bố hoặc đăng ký lưu hành, điều kiện bảo quản, nhãn hàng hóa, nội dung quảng cáo và chất lượng thực tế. Nghị định số 248/2026/NĐ-CP cũng quy định người bán trên sàn phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin và bảo đảm tính trung thực của thông tin về hàng hóa, dịch vụ đưa lên sàn.

Đối với thực phẩm nguy cơ cao, trách nhiệm của sàn cần được nâng lên tương xứng với vai trò của mình. Có thể yêu cầu thẩm tra người bán và hồ sơ pháp lý trước khi sản phẩm được hiển thị; đồng thời gắn mã định danh, lưu vết giao dịch, tiếp nhận phản ánh và có cơ chế gỡ bỏ sản phẩm vi phạm, khóa gian hàng tái phạm, cung cấp dữ liệu cho cơ quan quản lý khi cần thiết.

Điều quan trọng là trách nhiệm phải rõ từ trước khi sản phẩm được bán, thay vì chỉ xác định sau khi có vi phạm.

Phóng viên: Với những hành vi cố ý gian dối trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm, nhất là khi gây hậu quả nghiêm trọng sức khỏe cộng đồng, theo ông, chế tài cần được thiết kế thế nào để vừa nghiêm minh, vừa đủ sức răn đe?

Ths. Luật sư Bùi Văn Đức: Theo tôi, nguyên tắc cốt lõi là người vi phạm phải chịu cái giá lớn hơn lợi ích thu được từ hành vi vi phạm. Vì vậy, không nên chỉ nhìn vào mức phạt tiền, mà cần đồng thời tước bỏ lợi ích bất chính, buộc khắc phục hậu quả và xử lý hình sự kịp thời khi hành vi đủ dấu hiệu.

Pháp luật hiện hành đã có quy định xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm và một số vi phạm quy định về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, với những hành vi cố ý gian dối, thu lợi lớn nhưng chỉ bị xử phạt hành chính, sức răn đe có thể chưa tương xứng với tính chất và lợi ích mà người vi phạm thu được.

Do đó, Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) cần phân hóa chế tài theo tính chất, mức độ và hậu quả vi phạm. Những hành vi có chủ ý như sử dụng hồ sơ, phiếu kiểm nghiệm giả; khai sai thành phần; quảng cáo sai công dụng; che giấu nguồn gốc hoặc cố tình tái phạm cần được xử lý nghiêm hơn.

Bên cạnh tiền phạt, cần gắn chế tài với việc thu hồi lợi ích bất chính, buộc thu hồi và tiêu hủy sản phẩm không an toàn, đồng thời có biện pháp ngăn tổ chức, cá nhân vi phạm tiếp tục đưa sản phẩm ra thị trường trong thời hạn phù hợp.

Đặc biệt, cần xác định rõ ngưỡng chuyển từ xử lý hành chính sang hình sự. Với những vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng, ngộ độc trên diện rộng hoặc có tổ chức, có tính hệ thống, cơ quan chức năng cần kịp thời chuyển hồ sơ để xử lý theo quy định pháp luật.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cho phép dùng bao bì cũ khi đổi tên: "Cởi trói" chi phí cho doanh nghiệp

Cho phép dùng bao bì cũ khi đổi tên: "Cởi trói" chi phí cho doanh nghiệp

Sự ra đời của Nghị quyết số 39/2026/NQ-CP ngày 25/8/2026 của Chính phủ về cơ chế chuyển tiếp sử dụng nhãn, bao bì hàng hóa đã in tên cũ là một bước đi đột phá, tháo gỡ rào cản tài chính và hành chính lớn cho doanh nghiệp. Trong bối cảnh hoạt động sản xuất và xuất khẩu đòi hỏi tính liên tục cao, quy định mới không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí tồn kho mà còn đảm bảo chuỗi cung ứng hàng hóa thông suốt, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Hàng hóa đưa vào doanh nghiệp chế xuất được lựa chọn thủ tục hải quan

Hàng hóa đưa vào doanh nghiệp chế xuất được lựa chọn thủ tục hải quan

Theo quy định, hàng hóa mua từ nội địa đưa vào doanh nghiệp chế xuất để xây dựng công trình được lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục hải quan nếu đáp ứng điều kiện. Trường hợp không đáp ứng điều kiện thì phải thực hiện thủ tục hải quan.
Cục Thuế làm rõ hóa đơn, chứng từ khi doanh nghiệp mua hàng từ hộ sản xuất

Cục Thuế làm rõ hóa đơn, chứng từ khi doanh nghiệp mua hàng từ hộ sản xuất

Cục Thuế cho biết pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh phải sử dụng hóa đơn điện tử, được đăng ký sử dụng hoặc không phải sử dụng hóa đơn điện tử, trong đó có trường hợp bán hàng hóa, dịch vụ thuộc diện lập bảng kê thu mua.
Tờ khai phi thuế quan được tự động xác nhận qua khu vực giám sát

Tờ khai phi thuế quan được tự động xác nhận qua khu vực giám sát

Từ ngày 9/9/2026, Cục Hải quan triển khai chức năng tự động xác nhận qua khu vực giám sát đối với tờ khai xuất nhập khẩu giữa doanh nghiệp chế xuất và doanh nghiệp nội địa, giữa hai doanh nghiệp chế xuất và giữa doanh nghiệp chế xuất với chi nhánh trên phạm vi toàn quốc.
Luật Hải quan mới: Đồng bộ để chính sách đi vào thực tiễn

Luật Hải quan mới: Đồng bộ để chính sách đi vào thực tiễn

Để những quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 khi đi vào triển khai thực thi (1/3/2027) tạo ra thay đổi thực chất, giai đoạn chuẩn bị và tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định. Phóng viên trao đổi với TS. Nguyễn Minh Thảo, Phó Trưởng ban phụ trách, Ban Phát triển Doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) về vấn đề này.
Xác định đúng đối tượng hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi với xăng, dầu

Xác định đúng đối tượng hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi với xăng, dầu

Cục Hải quan hướng dẫn các chi cục hải quan khu vực xác định đúng mã HS, bản chất và mục đích sử dụng của hàng hóa khi áp dụng thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng, dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu theo Nghị định số 72/2026/NĐ-CP, Nghị quyết số 25/2026/NQ-CP và Nghị quyết số 34/2026/NQ-CP.
Luật Hải quan mở ra khung pháp lý quản lý thương mại điện tử thông qua dữ liệu

Luật Hải quan mở ra khung pháp lý quản lý thương mại điện tử thông qua dữ liệu

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 bổ sung khung pháp lý cho quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử, trọng tâm là định danh, xác thực điện tử và kết nối dữ liệu, qua đó tạo cơ sở để quản lý dòng hàng này phù hợp hơn với phương thức giao dịch số.
Xây dựng cơ chế khấu trừ thuế tại nguồn đối với “thương lái” thu mua, kinh doanh nông sản

Xây dựng cơ chế khấu trừ thuế tại nguồn đối với “thương lái” thu mua, kinh doanh nông sản

Trao đổi với bà Hoàng Thị Thanh Thủy, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn thuế SAF (Đắk Lắk) trong bối cảnh ngành Thuế đã và đang đẩy mạnh các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn và chống thất thu thuế đối với hoạt động thu mua, kinh doanh, xuất khẩu sầu riêng và các sản phẩm nông sản nói chung.
Hải quan giải đáp 4 nhóm vướng mắc của doanh nghiệp châu Âu

Hải quan giải đáp 4 nhóm vướng mắc của doanh nghiệp châu Âu

Cục Hải quan vừa có Công văn số 20808/CHQ-GSQL trả lời Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam về 4 nhóm vướng mắc liên quan đến ô tô, kho CFS, kho ngoại quan và nhãn hàng hóa.
Quy định kiểm tra chứng từ xuất xứ hàng hóa nhập khẩu

Quy định kiểm tra chứng từ xuất xứ hàng hóa nhập khẩu

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 124/2026/TT-BTC bổ sung quy định kiểm tra chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro.
Miễn, giảm phí, lệ phí để người dân tiến sâu hơn vào đời sống số

Miễn, giảm phí, lệ phí để người dân tiến sâu hơn vào đời sống số

Từ ngày 15/8/2026 đến hết ngày 28/2/2027, công dân có tài khoản định danh điện tử mức độ 2 được miễn, giảm 10 khoản phí, lệ phí nếu đáp ứng đủ điều kiện. Chia sẻ với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, Luật sư Phạm Tuấn Anh (Đoàn luật sư TP. Hà Nội), Chuyên gia Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số cho rằng, không chỉ giúp người dân giảm chi phí khi thực hiện thủ tục, chính sách này còn mở thêm lợi ích cho doanh nghiệp nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh khi dữ liệu số ngày càng gắn chặt với giao dịch, quản lý và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
Giảm 30% thuế: Đã kê khai, nộp thuế trước ngày 24/8 xử lý thế nào?

Giảm 30% thuế: Đã kê khai, nộp thuế trước ngày 24/8 xử lý thế nào?

Xử lý số thuế đã kê khai, tạm nộp; thủ tục để được hưởng chính sách và các khoản thuế đang được gia hạn đang là những vấn đề được nhiều doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh quan tâm ngay khi Nghị quyết giảm 30% thuế ban hành. Phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã có cuộc trao đổi với bà Lê Yến, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn Thuế Hà Nội về vấn đề này.
Hàng bán tại cửa hàng miễn thuế nộp thừa thuế giá trị gia tăng, xử lý ra sao?

Hàng bán tại cửa hàng miễn thuế nộp thừa thuế giá trị gia tăng, xử lý ra sao?

Cục Hải quan yêu cầu rà soát hàng bán tại cửa hàng miễn thuế đã nộp thuế giá trị gia tăng; nếu là hàng tạm nhập tái xuất và không tiêu dùng tại Việt Nam thì xử lý số thuế nộp thừa.
Điều kiện được giảm thuế GTGT với dịch vụ xây dựng đến hết năm 2026

Điều kiện được giảm thuế GTGT với dịch vụ xây dựng đến hết năm 2026

Dịch vụ xây dựng đang áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% có thể được giảm còn 8% đến hết năm 2026 nếu đáp ứng các điều kiện theo Nghị định số 174/2025/NĐ-CP và không thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ loại trừ.
Tạo thuận lợi từ tuân thủ: Bước chuyển mới của Luật Hải quan

Tạo thuận lợi từ tuân thủ: Bước chuyển mới của Luật Hải quan

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 xác lập rõ hơn cơ chế quản lý tuân thủ, tạo cơ sở để doanh nghiệp tuân thủ tốt được ưu tiên thực hiện thủ tục và xem xét miễn, giảm mức độ kiểm tra, giám sát, kiểm tra sau thông quan, qua đó đưa tuân thủ thành lợi thế trong hoạt động xuất nhập khẩu.