![]() |
| Quy trình kiểm tra thuế đặt trọng tâm vào quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ, ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách hành chính. Ảnh: Duy Hưng. |
Từ kiểm tra diện rộng đến chọn đúng hồ sơ rủi ro
Quyết định số 1161/QĐ-CT của Cục Thuế ban hành Quy trình kiểm tra thuế, có hiệu lực từ ngày 14/8/2026, thay thế Quy trình ban hành kèm Quyết định số 970/QĐ-TCT năm 2023, trừ các trường hợp chuyển tiếp. Quy trình đặt trọng tâm vào quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ, ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách hành chính.
Trước đó, tại Hội thảo trao đổi, tổng hợp kiến nghị, kinh nghiệm một số nội dung đổi mới để phục vụ cải tiến phương pháp, quy trình kiểm tra thuế, Trưởng ban Kiểm tra (Cục Thuế) Nguyễn Tiến Trung nhấn mạnh, quy trình mới không chỉ kế thừa những nội dung còn phù hợp của quy trình hiện hành, mà còn tập trung cập nhật các phương thức quản lý hiện đại, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong phân tích rủi ro, lựa chọn đối tượng kiểm tra và hỗ trợ xử lý dữ liệu.
Với quy trình mới ban hành, việc kiểm tra hồ sơ tại trụ sở cơ quan Thuế được ưu tiên thực hiện trực tuyến, từ xa trên dữ liệu điện tử và được rà soát theo cơ chế quản lý rủi ro đối với người nộp thuế là tổ chức. Khi đã có ứng dụng hỗ trợ, hệ thống được sử dụng để đánh giá, cảnh báo các nội dung rủi ro cao; trường hợp chưa có công cụ hỗ trợ, công chức thuế vẫn phải rà soát trên cơ sở dữ liệu quản lý và thông tin thu thập hợp pháp.
Danh sách hồ sơ cần kiểm tra có thể được hình thành từ phân hệ quản lý tuân thủ và rủi ro thuế, ứng dụng đánh giá rủi ro hóa đơn hoặc qua thực tế quản lý. Trường hợp phát hiện từ thực tiễn, phiếu đề xuất phải mô tả cụ thể hành vi hoặc dấu hiệu rủi ro, được thẩm định trước khi phê duyệt.
Nguồn dữ liệu không chỉ có tờ khai thuế mà còn gồm hóa đơn điện tử, biến động bất thường về doanh thu, chi phí, dòng tiền và thông tin được chia sẻ hợp pháp từ ngân hàng, cơ quan thanh tra, kiểm toán. Nhờ đó, hồ sơ được xem xét trong mối liên hệ với hoạt động kinh doanh thực tế.
Khi rà soát, công chức thuế đối chiếu các chỉ tiêu trên tờ khai, tài liệu kèm theo, dữ liệu của kỳ kê khai trước, hóa đơn điện tử và quy định pháp luật liên quan. Nếu ứng dụng cảnh báo rủi ro cao nhưng kết quả rà soát thực tế không phát hiện dấu hiệu khai sai, hồ sơ được lập phiếu nhận xét, báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt lưu. Cách xử lý này cho thấy cảnh báo của hệ thống là đầu vào để phân tích, không tự động đồng nghĩa với vi phạm.
![]() |
| Thời hạn giải trình không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan Thuế ban hành thông báo. Ảnh: Thuế tỉnh Sơn La. |
Cơ hội giải trình trước khi chuyển sang kiểm tra
Một điểm đáng chú ý của quy trình là cơ chế giải trình theo từng bước. Khi hồ sơ có dấu hiệu khai sai hoặc chưa chính xác, cơ quan Thuế ban hành thông báo lần thứ nhất, yêu cầu người nộp thuế giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu đối với đúng nội dung rủi ro đã phát hiện. Thời hạn giải trình ghi trong thông báo không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan Thuế ban hành thông báo.
Nếu tài liệu chứng minh số thuế đã khai là đúng, hoặc người nộp thuế khai bổ sung đúng hạn và làm rõ nội dung, hồ sơ được chấp nhận. Nếu thông tin chưa đủ căn cứ hoặc người nộp thuế không phản hồi, cơ quan Thuế có thể ban hành thông báo lần thứ hai trong vòng 5 ngày làm việc; thời hạn tiếp tục giải trình không quá 10 ngày làm việc.
Sau hai lần thông báo, nếu người nộp thuế vẫn không giải trình, không cung cấp tài liệu, không khai bổ sung hoặc giải trình nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng, cơ quan Thuế xem xét tình trạng hoạt động để lựa chọn biện pháp xử lý và ấn định thuế khi đã đủ căn cứ theo pháp luật.
Nếu chưa đủ căn cứ xác định số thuế phải nộp, hồ sơ được chuyển sang bộ phận kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế hoặc làm cơ sở xây dựng kế hoạch kiểm tra theo nguyên tắc quản lý rủi ro.
Quy trình đồng thời đặt ra nguyên tắc kế thừa kết quả. Bộ phận kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế phải sử dụng lại dữ liệu, thông tin và hồ sơ đã được đối chiếu ở khâu kiểm tra tại cơ quan Thuế; phạm vi tiếp tục kiểm tra tập trung vào nội dung chưa được giải trình và những rủi ro khác được xác định trước khi tiến hành. Cơ chế này có ý nghĩa hạn chế việc yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lặp lại tài liệu đã có và giữ cho cuộc kiểm tra đi đúng trọng tâm.
Người nộp thuế có thể giải trình trực tiếp, trực tuyến, bằng giao dịch điện tử hoặc qua bưu điện; trường hợp bất khả kháng được đề nghị hoãn và cơ quan Thuế xem xét trên cơ sở lý do thực tế.
Ông Nguyễn Tiến Trung cho rằng, việc đặt khâu phân tích dữ liệu và giải trình trước kiểm tra trực tiếp có thể giúp cơ quan Thuế tập trung nguồn lực vào hồ sơ thực sự có rủi ro, đồng thời mở cho người nộp thuế cơ hội chứng minh tính chính xác của hồ sơ. Hiệu quả của cơ chế này sẽ phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, độ rõ của từng yêu cầu giải trình và trách nhiệm của công chức trong việc chỉ yêu cầu thông tin liên quan trực tiếp đến dấu hiệu đã xác định.