![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Phóng viên: Hàng giả xuyên biên giới trong TMĐT đang ngày càng khó kiểm soát so với mô hình truyền thống, nguyên nhân của tình trạng này là gì, thưa bà?
TS. Lê Tường Vy: Thực tế cho thấy, hàng giả đã thay đổi cách di chuyển qua biên giới. Trước đây, khi đề cập đến hàng vi phạm, chúng ta thường hình dung những lô hàng lớn, tập kết tại một địa điểm, vận chuyển bằng phương tiện có thể nhận diện. Mô hình này tạo ra dấu vết tương đối rõ, nhưng TMĐT xuyên biên giới đã làm thay đổi cách di chuyển của hàng giả.
|
Một mô hình đáng lưu ý là kết hợp kho ngoại quan với trung tâm chia chọn bưu chính, chuyển phát nhanh. Hàng hóa có thể được đưa vào kho ngoại quan, nơi hàng chưa phát sinh nghĩa vụ thuế theo cơ chế áp dụng đối với hàng hóa lưu giữ tại đây. Sau đó, thay vì đưa ra thị trường theo những lô hàng lớn, hàng được chia nhỏ theo từng đơn đặt hàng.
Khi người tiêu dùng đặt hàng trên sàn, dữ liệu đơn hàng được chuyển đến khâu nhặt hàng, đóng gói và chia chọn. Từ đây, hàng hóa nhanh chóng đi vào mạng lưới chuyển phát để thực hiện chặng cuối.
Điều đáng lo là dòng hàng và dòng dữ liệu vận hành gần như đồng thời. Người mua vừa bấm đặt hàng, hệ thống phía sau đã có thể kích hoạt một chuỗi xử lý logistics. Với những bưu gửi giá trị nhỏ, thủ tục được thực hiện nhanh, thậm chí chỉ trong thời gian rất ngắn, khiến hàng hóa có thể nhanh chóng hòa vào dòng chuyển phát thông thường. Trong điều kiện đó, nếu chỉ nhìn vào từng kiện hàng riêng lẻ, rất khó nhận ra phía sau là một nguồn hàng có tổ chức.
Phóng viên: Như vậy, kho ngoại quan và mạng lưới chuyển phát nhanh đang dần trở thành mắt xích quan trọng trong mô hình mới này?
TS. Lê Tường Vy: Đúng vậy, nhưng cần nhìn nhận một cách chính xác hơn, đó là bản thân kho ngoại quan hay chuyển phát nhanh không phải là vấn đề. Đây là những hạ tầng hợp pháp và cần thiết cho thương mại quốc tế. Rủi ro chỉ xuất hiện khi những hạ tầng đó bị lợi dụng để tổ chức một chuỗi cung ứng hàng vi phạm.
Điểm tinh vi nằm ở cách các đối tượng xẻ lẻ dòng hàng. Thay vì đưa một container hàng giả vào thị trường rồi tìm cách tiêu thụ, nguồn hàng có thể được giữ ở một điểm trung gian, sau đó chỉ xuất ra từng phần khi phát sinh đơn hàng. Mỗi đơn hàng trở thành một bưu gửi riêng biệt. Mỗi bưu gửi lại có một người nhận, một mã vận đơn và một hành trình giao hàng.
Nhìn riêng từng giao dịch, không có gì quá lớn, nhưng nếu ghép hàng nghìn, thậm chí hàng vạn giao dịch lại, chúng ta mới thấy được quy mô thực sự.
Điểm yếu lớn nhất không nằm ở một kiện hàng, mà nằm ở khả năng kết nối dữ liệu giữa các kiện hàng. Nếu cơ quan chức năng chỉ kiểm tra theo phương pháp truyền thống, việc phát hiện một đường dây như vậy sẽ rất khó. Cần soi xét kỹ hơn những dấu hiệu bất thường: cùng một nguồn hàng, nhiều tài khoản bán hàng, nhiều người nhận nhưng tập trung về một tuyến logistics; lượng đơn nhỏ nhưng lặp lại liên tục; giá bán bất thường; tần suất xuất kho cao. Nói cách khác, phải chuyển từ kiểm tra một kiện hàng sang nhận diện một mô hình vận hành.
Phóng viên: Một vấn đề khác cũng cần chú ý đó là tiếp thị liên kết. Nhiều ý kiến cho rằng, phương thức này dễ bị biến tướng, thành lớp vỏ che giấu nguồn cung hàng giả, quan điểm của bà về vấn đề này thế nào?
TS. Lê Tường Vy: Tiếp thị liên kết vốn là một mô hình kinh doanh hợp pháp. Người quảng bá giới thiệu sản phẩm, gắn đường liên kết và nhận hoa hồng khi có đơn hàng phát sinh. Vấn đề là mô hình này có thể bị lợi dụng để tách người quảng bá khỏi nguồn cung thực tế.
Hãy hình dung một người có sức ảnh hưởng đăng video giới thiệu một sản phẩm. Người này không giữ hàng, không có kho, không trực tiếp đóng gói và đôi khi cũng không biết hàng được lấy từ đâu. Họ chỉ gắn đường liên kết để nhận hoa hồng.
Khi sản phẩm có vấn đề, nguồn cung lại nằm ở một chủ thể khác. Người quảng bá có thể cho rằng mình chỉ làm nhiệm vụ tiếp thị. Người bán lại có thể sử dụng một tài khoản ảo hoặc gian hàng mới thành lập. Kho hàng tiếp tục nằm ở một địa điểm khác, thậm chí ngoài lãnh thổ Việt Nam. Nghĩa là, ba lớp (người quảng bá, người bán, nguồn hàng) được tách rời. Chính sự tách rời này tạo ra khoảng cách trách nhiệm.
Tinh vi hơn, đường liên kết có thể được thay đổi hoặc điều hướng. Khách hàng nhìn thấy một nội dung quảng cáo công khai nhưng sau khi nhấp vào lại được dẫn đến một gian hàng khác. Khi gian hàng bị phát hiện, đường liên kết có thể bị gỡ, tài khoản có thể biến mất, trong khi mạng lưới vẫn tiếp tục hoạt động dưới tên khác.
Vì vậy, khi quản lý tiếp thị liên kết, không nên chỉ nhìn vào người bán cuối cùng. Cần nhìn vào toàn bộ chuỗi tạo ra giao dịch, từ nội dung quảng bá, đường liên kết, tài khoản nhận hoa hồng, người bán, kho hàng đến đơn vị vận chuyển.
Phóng viên: Nếu kết hợp kho ngoại quan, chuyển phát nhanh và tiếp thị liên kết, theo bà, mô hình hàng giả xuyên biên giới sẽ phát triển theo hướng nào trong thời gian tới?
TS. Lê Tường Vy: Tôi cho rằng, xu hướng sẽ là không kho, không cửa hàng, không danh tính cố định. Người tiêu dùng nhìn thấy sản phẩm trên mạng xã hội. Người quảng bá chỉ làm nhiệm vụ kéo khách. Đơn hàng được chuyển đến một gian hàng. Hàng lại nằm ở một kho khác. Kho có thể ở nước ngoài hoặc trong khu vực logistics trung gian. Khi có đơn, hệ thống lập tức chia hàng, đóng gói và đưa vào mạng lưới chuyển phát.
Đây là mô hình linh hoạt. Nếu một tài khoản bị khóa, một tài khoản khác có thể xuất hiện. Nếu một gian hàng bị xử lý, nguồn hàng vẫn còn. Nếu một địa điểm bị kiểm tra, hàng hóa đã được phân tán sang nhiều nơi.
Công nghệ trí tuệ nhân tạo còn có thể đẩy nhanh hơn quá trình này. Nội dung quảng cáo được tạo ra hàng loạt, thay đổi theo từng nhóm đối tượng khách hàng. Hình ảnh, video và đánh giá có thể được tạo hoặc thao túng để tăng độ tin cậy. Các tài khoản ảo tiếp tục tạo tương tác nhằm đẩy sản phẩm lên vị trí dễ tiếp cận.
Vì vậy, hàng giả xuyên biên giới sẽ ngày càng giống một hệ thống thương mại số được tổ chức rất bài bản. Nếu không theo dõi dòng dữ liệu, chúng ta có thể nhìn thấy hàng nghìn đơn hàng nhỏ nhưng không nhận ra đó là một nguồn cung lớn phía sau.
Phóng viên: Theo bà, cần làm gì để chặn mô hình này, nhất là tại điểm giao giữa TMĐT, kho ngoại quan, chuyển phát nhanh và tiếp thị liên kết?
TS. Lê Tường Vy: Theo tôi, cần thay đổi căn bản cách quản lý. Không thể chỉ chờ hàng đến cửa khẩu hoặc đến kho rồi mới kiểm tra. Phải phát hiện rủi ro ngay từ khi dữ liệu giao dịch hình thành.
Trước hết, cần tăng khả năng kết nối dữ liệu giữa cơ quan Hải quan, Quản lý thị trường, Công an, Thuế, các sàn TMĐT và doanh nghiệp chuyển phát. Một tài khoản bán hàng có thể thay đổi, nhưng dữ liệu về kho, dòng tiền, tần suất giao dịch, người nhận, tuyến vận chuyển và tài khoản nhận hoa hồng sẽ tạo ra dấu vết.
Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế nhận diện những mô hình bất thường thay vì chỉ đặt ngưỡng kiểm tra theo giá trị từng bưu gửi. Một lượng lớn bưu gửi giá trị nhỏ, cùng nguồn hàng, cùng tuyến vận chuyển hoặc cùng dấu hiệu thương hiệu có thể là một tín hiệu rủi ro đáng chú ý.
Với nền tảng số, trách nhiệm không nên dừng ở việc gỡ một sản phẩm vi phạm. Cần có cơ chế lưu giữ dữ liệu cần thiết, xác thực người bán và phát hiện các tài khoản có liên hệ với nhau.
Với tiếp thị liên kết, cũng cần minh bạch hơn về chủ thể hưởng hoa hồng và nguồn cung. Không thể để một sản phẩm được quảng bá rộng rãi nhưng khi xảy ra vi phạm lại không xác định được ai đứng sau.
Còn với doanh nghiệp và người tiêu dùng, cần tăng khả năng truy xuất nguồn gốc. Mã QR động hay các giải pháp xác thực điện tử có thể tạo thêm lớp bảo vệ.
Hàng giả có thể đi xuyên biên giới trong vài giờ, nhưng dữ liệu về hành trình của nó cũng để lại dấu vết. Vấn đề là chúng ta có đủ khả năng kết nối những dấu vết ấy để nhìn ra cả đường dây hay không.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!