![]() |
| Việc kê khai điều chỉnh được thực hiện cùng hồ sơ khai thuế quý phát sinh doanh thu trên 10 tỷ đồng. Ảnh: Thuế cơ sở 2 TP. Huế. |
Một trong những nội dung đáng chú ý tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết Nghị quyết số 43/2026/QH16 là cơ chế xử lý đối với hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu biến động trong năm.
Theo dự thảo, chính sách giảm 30% số thuế TNCN phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 áp dụng đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh và có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, 2027 không quá 10 tỷ đồng. Doanh thu làm căn cứ xác định đối tượng được giảm thuế thực hiện theo quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Điểm đáng chú ý, dự thảo cho phép hộ, cá nhân kinh doanh dự kiến doanh thu trong kỳ tính thuế năm 2026, 2027 không quá 10 tỷ đồng được kê khai giảm thuế theo mẫu quy định và nộp cùng hồ sơ khai thuế quý, năm hoặc quyết toán thuế.
Như vậy, nếu dự kiến doanh thu vẫn nằm trong ngưỡng 10 tỷ đồng, hộ, cá nhân kinh doanh có thể thực hiện việc giảm 30% số thuế TNCN phải nộp ngay trong quá trình kê khai.
Tuy nhiên, doanh thu dự kiến không phải là căn cứ cuối cùng để xác định quyền được giảm thuế. Dự thảo quy định hộ, cá nhân kinh doanh phải căn cứ tổng doanh thu thực tế của toàn bộ hoạt động kinh doanh để xác định số thuế TNCN phải nộp và số thuế được giảm.
Trường hợp tổng doanh thu thực tế vượt 10 tỷ đồng thì không được áp dụng mức giảm thuế 30%. Khi đó, người nộp thuế phải nộp bổ sung số thuế đã được giảm, đồng thời kê khai điều chỉnh theo Mẫu số 03 kèm theo dự thảo Nghị định. Việc kê khai điều chỉnh được thực hiện cùng hồ sơ khai thuế quý phát sinh doanh thu trên 10 tỷ đồng.
Điểm đáng chú ý của dự thảo là Bộ Tài chính đề xuất số thuế phải nộp bổ sung do xác định lại điều kiện giảm thuế trong trường hợp doanh thu thực tế vượt 10 tỷ đồng không bị tính tiền chậm nộp.
Quy định này được thiết kế riêng cho trường hợp xác định lại điều kiện giảm thuế. Không tính tiền chậm nộp đối với khoản thuế này không đồng nghĩa với việc mọi khoản thuế TNCN nộp bổ sung của hộ kinh doanh đều không phát sinh tiền chậm nộp.
Bên cạnh đó, dự thảo quy định đối với hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp thuế suất nhân với doanh thu, nếu phát sinh số thuế nộp thừa thì cuối năm được bù trừ, hoàn trả hoặc hoàn trả kiêm bù trừ theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Đối với doanh nghiệp, dự thảo đề xuất đối tượng áp dụng giảm thuế bao gồm doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã; đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.
Đáng chú ý, dự thảo không chỉ quy định về đối tượng mà còn làm rõ doanh thu năm làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc diện được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm 2026 và 2027.
Theo đó, doanh thu được tính gồm tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ, không bao gồm các khoản giảm trừ doanh thu; doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác.
Quy định này cho thấy việc xác định doanh thu để áp dụng chính sách giảm thuế không chỉ căn cứ vào doanh thu từ hoạt động kinh doanh cốt lõi mà còn tính đến doanh thu tài chính và thu nhập khác theo cách xác định được dự thảo đề xuất.
Đối với doanh nghiệp có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh, doanh thu trong kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm cả doanh thu của đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh thể hiện trên báo cáo tài chính tổng hợp năm.
Dự thảo cũng xử lý trường hợp doanh nghiệp có kỳ tính thuế đầu tiên hoặc kỳ tính thuế cuối cùng ngắn hơn 3 tháng do mới thành lập, chuyển đổi loại hình, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể hoặc phá sản.
Nếu kỳ tính thuế dưới 3 tháng được cộng vào kỳ tính thuế năm 2026 hoặc 2027 để hình thành một kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp thì việc xác định doanh thu và số thuế được giảm được thực hiện đối với 12 tháng của kỳ tính thuế năm tương ứng.
Một quy định khác đáng chú ý là việc giảm thuế không áp dụng đối với doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp hình thành từ việc chia, tách doanh nghiệp sau ngày Nghị quyết số 43/2026/QH16 có hiệu lực, nếu tổng doanh thu hằng năm của năm 2026, 2027 của các doanh nghiệp sau chia, tách trên 10 tỷ đồng.
Quy định này nhằm xử lý trường hợp doanh nghiệp được chia, tách sau thời điểm Nghị quyết có hiệu lực nhưng quy mô doanh thu của các doanh nghiệp sau chia, tách vẫn vượt ngưỡng theo điều kiện dự thảo đặt ra.
Về số thuế được giảm, dự thảo đề xuất số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm trong kỳ tính thuế năm 2026, 2027 được tính trên toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp có kỳ tính thuế theo năm, không phân biệt phương pháp tính thuế, bao gồm cả các khoản thu nhập quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trường hợp doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế theo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp hoặc các luật, nghị quyết khác của Quốc hội, số thuế được giảm được tính trên số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp sau khi đã trừ ưu đãi thuế.
Như vậy, cùng với việc xác định rõ đối tượng, dự thảo Nghị định quy định chi tiết Nghị quyết số 43/2026/QH16 về giảm thuế TNCN, thuế TNDN đối với cá nhân và doanh nghiệp được thiết kế cụ thể cách xác định doanh thu và số thuế được giảm đối với các đối tượng thụ hưởng, qua đó góp phần tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện.