![]() |
| Hoạt động sản xuất tại Công ty CP may Sông Hồng - một trong những doanh nghiệp được công nhận AEO. Ảnh: H. Nụ |
Mở rộng ưu đãi cho công nghệ chiến lược
Theo đánh giá của Cục Hải quan, kể từ khi Luật Hải quan năm 2014 có hiệu lực, hệ thống chính sách pháp luật về AEO đã tạo nên một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ và thống nhất. Quy định hiện hành bao phủ toàn diện từ chế độ ưu tiên, điều kiện áp dụng, quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp cũng như cơ quan Hải quan, cho đến thẩm quyền, quy trình công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ hay đình chỉ áp dụng chế độ này.
Tính đến tháng 6/2026, cả nước đã ghi nhận 72 doanh nghiệp ưu tiên đến từ Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Hoa Kỳ, Ý, Đan Mạch và liên doanh Việt - Nga. Sự gia tăng này phản ánh sức hút thực tế của chính sách đối với dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước.
Đáng chú ý, Luật số 90/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan và các luật liên quan) đã đánh dấu bước chuyển mình quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, bảo đảm tính đồng bộ với Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo.
Theo đó, Luật sửa đổi quy định điều kiện áp dụng chế độ AEO đối với các nhóm doanh nghiệp do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, bao gồm: doanh nghiệp công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao; doanh nghiệp thực hiện dự án công nghệ chiến lược; doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, dự án R&D, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử chip bán dẫn, trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo (AI); và doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụ trợ trực tiếp cho công nghiệp bán dẫn.
Điểm đột phá căn bản nằm ở chỗ so với các doanh nghiệp thông thường, các doanh nghiệp thuộc nhóm công nghệ chiến lược nêu trên không cần đáp ứng điều kiện về kim ngạch và điều kiện về tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế liên tục trong 2 năm. Đây là đòn bẩy hành chính vượt trội giúp thu hút các dự án công nghệ cao mới thành lập vào Việt Nam.
Việc hoàn thiện chế độ AEO (từ Điều 42 đến Điều 45 Luật Hải quan) không chỉ đảm bảo sự tương thích với các cam kết quốc tế như Công ước Kyoto sửa đổi, Hiệp định Hải quan ASEAN, Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại (TFA) hay Khung tiêu chuẩn SAFE, mà còn là nền tảng chiến lược để Hải quan Việt Nam tiến tới đàm phán, ký kết các Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) với hải quan các nước, giúp doanh nghiệp Việt Nam hưởng trọn đặc quyền ưu tiên khi vươn ra thị trường toàn cầu.
Thể chế hóa quản lý tuân thủ tự nguyện
Bên cạnh chính sách dành riêng cho AEO, dự thảo Luật Hải quan sửa đổi còn tạo ra bước ngoặt lớn khi thể chế hóa cơ chế quản lý tuân thủ (Điều 17a) áp dụng rộng rãi cho toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
![]() |
| Hải quan khu vực X ký kết Chương trình tự nguyện tuân thủ pháp luật hải quan với 5 doanh nghiệp có hoạt động qua địa bàn. Ảnh: TS |
Đánh giá về định hướng sửa đổi tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội diễn ra chiều ngày 15/7, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi cốt lõi từ tư duy tiền kiểm sang quản lý rủi ro, từ quản lý hồ sơ sang quản lý dữ liệu, từ quản lý hành chính sang phục vụ phát triển, lấy mức độ tuân thủ tự nguyện của doanh nghiệp làm thước đo chính.
Chủ tịch Quốc hội khẳng định, việc chuyển từ mô hình quản lý rủi ro phân luồng (Xanh, Vàng, Đỏ) tại thời điểm thông quan truyền thống sang đánh giá toàn diện mức độ tuân thủ sẽ làm thay đổi bản chất quan hệ quản lý. Doanh nghiệp không còn đơn thuần là “đối tượng bị kiểm tra, giám sát” mà trở thành “đối tác tự nguyện tuân thủ” được cơ quan Hải quan hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý nội bộ. Đồng thời, việc phân loại mức độ tuân thủ rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có mức độ tuân thủ cao được giảm tối đa tần suất kiểm tra sau thông quan.
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh cần luật hóa rõ ràng quyền lợi, đơn cử như doanh nghiệp đạt Mức độ 1 (mức tuân thủ cao nhất) sẽ được miễn kiểm tra định kỳ sau thông quan từ 3 đến 5 năm, trừ khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật rõ ràng.
Liên quan đến việc ứng dụng AI trong phân luồng và xếp loại mức độ tuân thủ tự động, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải lưu ý nội dung này can thiệp trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và chi phí của doanh nghiệp.
Do đó, dự thảo Luật Hải quan sửa đổi cần thiết lập các nguyên tắc pháp lý chặt chẽ: tiêu chí quản lý rủi ro và đánh giá tuân thủ phải minh bạch, khách quan; doanh nghiệp có quyền được biết mức độ tuân thủ, được phản hồi và kiến nghị đánh giá lại; đồng thời phải có cơ chế xem xét lại các quyết định tự động gây bất lợi cho doanh nghiệp, gắn kèm trách nhiệm pháp lý của cơ quan Hải quan.