| Bài 1: Công bằng: Tiêu chuẩn cốt lõi để đảm bảo tuân thủ pháp luật thuế |
![]() |
| Cảm nhận tốt về tính công bằng thuế sẽ khuyến khích người lao động cống hiến và phát triển kinh doanh bền vững. |
Mối liên hệ giữa công bằng thuế và tuân thủ
Khi phần đông người dân cảm thấy thỏa mãn về tính công bằng của hệ thống thuế, điều đó tạo ra động lực mạnh mẽ để tuân thủ thuế tốt hơn và đồng thời giảm bớt động lực trốn thuế.
Nhờ cảm nhận về tính công bằng này, sẽ tạo động lực cho người lao động cống hiến, góp phần vào sự phát triển sản xuất, kinh doanh bền vững. Đối với các chính trị gia, việc lựa chọn chính sách công bằng thường nghiêng về cảm nhận công bằng của số đông nhằm đáp ứng yêu cầu tạo sự đồng thuận về chính trị.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn kiên trì chủ trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống thuế công bằng, minh bạch, hiệu quả, và phù hợp với thông lệ quốc tế. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 xác định chính sách tài chính quốc gia cần phải " Chính sách tài chính quốc gia phải động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và phân phối lợi ích công bằng".
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 – 2030 chỉ rõ: "Mở rộng cơ sở thu, bảo đảm tính công bằng, trung lập của chính sách thuế đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ các thủ tục nộp thuế, phí của người dân và doanh nghiệp".
Mục tiêu của Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 là "huy động hợp lý nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo tính đồng bộ, công bằng, trung lập của chính sách; đơn giản, minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện”.
Một số kết quả trong việc đảm bảo công bằng thuế ở Việt Nam
Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã được cụ thể hóa vào chính sách và quy định pháp luật thuế của Việt Nam. Mặc dù có những thay đổi nhất định theo thời gian, nhưng xét trên phương diện đảm bảo tính công bằng của hệ thống thuế, có thể thấy hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam đã thể hiện rất rõ nguyên tắc đánh thuế đảm bảo sự công bằng trong điều tiết thu nhập, cả công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Cụ thể như sau:
Về thuế TNCN được coi là sắc thuế quan trọng hàng đầu trong điều tiết thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội. Việt Nam đã áp dụng nhất quán nguyên tắc đánh thuế TNCN lũy tiến, dù thuế suất có thay đổi qua các thời kỳ.
Từ ngày 1/1/2009 đến 2014, biểu thuế lũy tiến với 7 mức thuế suất từ 5% đến 35% áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và kinh doanh của cá nhân cư trú. Từ 1/1/2015 trở đi biểu thuế lũy tiến này chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú. Thu nhập từ kinh doanh tính thuế theo tỷ lệ % trên doanh thu mà không áp dụng biểu thuế lũy tiến. Các khoản thu nhập còn lại áp dụng thuế suất đơn nhất với các mức thuế suất khác nhau.
Cũng từ 1/1/2009, Việt Nam chuyển từ hệ thống giảm trừ tiêu chuẩn sang giảm trừ gia cảnh. Như vậy, có thể thấy Việt Nam đã áp dụng nhất quán nguyên tắc đánh TNCN lũy tiến. Điều này đảm bảo tính công bằng theo chiều dọc của TNCN. Thêm vào đó, từ 1/1/2009, hệ thống giảm trừ gia cảnh được áp dụng thay thế cho hệ thống giảm trừ tiêu chuẩn. Điều này giúp TNCN vừa đảm bảo công bằng theo chiều dọc, vừa đảm bảo công bằng theo chiều ngang trong điều tiết thu nhập.
Một số quy định miễn TNCN hoặc quy định về thu nhập không chịu TNCN đối với thu nhập của những đối tượng khó khăn, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp… cũng góp phần thực hiện chính sách xã hội đối với đối tượng khó khăn, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Đối với thuế TTĐB, định hướng chung khi xây dựng chính sách TTĐB ở Việt Nam là đánh thuế cao vào một số hàng hóa, dịch vụ cao cấp – đối tượng chi tiêu của người có thu nhập cao trong xã hội. Luật thuế TTĐB đã bổ sung tàu bay, du thuyền vào đối tượng chịu thuế.
Thuế suất được thiết kế theo hướng hàng hóa, dịch vụ càng cao cấp thì thuế suất càng cao. Ví dụ, xe ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống có thuế suất tăng dần theo dung tích động cơ, với dòng xe có dung tích động cơ trên 6.000 phân khối chịu thuế suất cao nhất là 150%. Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi) số 66/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026 điều chỉnh đối tượng chịu thuế đối với mặt hàng điều hòa nhiệt độ theo hướng loại bỏ loại điều hòa mà người dân có thu nhập từ trung bình trở xuống sử dụng khỏi diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Theo đó, đối tượng chịu thuế là “Điều hòa nhiệt động công suất từ 90.000 BTU trở xuống” được chuyển thành “Điều hòa nhiệt độ công suất trên 24.000 BTU đến 90.000 BTU”.
Về thuế GTGT đây là sắc thuế có tính lũy thoái so với thu nhập và thường được các quốc gia lựa chọn để đảm bảo nguồn thu hơn là công bằng xã hội. Mặc dù vậy, sự lựa chọn về chính sách của Việt Nam trong thời gian qua vẫn kết hợp đảm bảo tính công bằng trong GTGT. Theo đó, một số hàng hóa, dịch vụ rất thiết yếu được xếp vào danh mục không chịu GTGT, chẳng hạn như giáo dục đào tạo, y tế… Một số hàng hóa, dịch vụ thiết khác được xếp vào nhóm áp dụng thuế suất 5% (trong khi mức thuế suất đối với hàng hóa, dịch vụ thông thường là 10%). Hộ, cá nhân kinh doanh có thu nhập thấp cũng được xếp vào nhóm không chịu GTGT.