Chủ nhật 11/10/2026 00:54
Thời tiết: Hà Nội 26°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 23°C
TP Hồ Chí Minh 26°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Thêm dư địa giảm thủ tục, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất

Ngô Kiến (Thực hiện)
Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 25/2026/NĐ-CP đang mở thêm dư địa để doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất giảm thủ tục, chi phí tuân thủ và đẩy mạnh số hóa quản lý. Tuy nhiên, theo TS. Đào Cao Sơn, Phó Trưởng bộ môn Quản trị thương hiệu và Sở hữu trí tuệ, Khoa Marketing, Trường Đại học Thương mại, thông quan chỉ là một khâu trong cả quá trình, doanh nghiệp cần chủ động hơn từ khai báo, lưu trữ, vận chuyển đến bảo quản và sử dụng hóa chất.
Thêm dư địa giảm thủ tục, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất
Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI.

Phóng viên: Nghị định số 25/2026/NĐ-CP mới có hiệu lực nhưng dự thảo sửa đổi, bổ sung đã được xây dựng. Từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu, theo ông, đâu là những vướng mắc cần được tháo gỡ và doanh nghiệp cần nhìn nhận những thay đổi này như thế nào?

TS. Đào Cao Sơn: Đáng chú ý, dự thảo không quy định thêm lớp thủ tục đối với hoạt động nhập khẩu. Các nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu tập trung vào việc cấp, cấp lại, cấp điều chỉnh, thu hồi chứng chỉ tư vấn chuyên ngành hóa chất; đồng thời thẩm định, phê duyệt Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất.

Thêm dư địa giảm thủ tục, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất

Doanh nghiệp nhập khẩu cần quản lý thống nhất các thông tin quan trọng như: tên hóa chất, thành phần, nồng độ, khối lượng, mục đích sử dụng, nơi lưu trữ và quá trình sử dụng. Những dữ liệu này phải khớp với nhau và có khả năng truy xuất khi cần.

TS Đào Cao Sơn

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn ở góc độ cửa khẩu thì chưa thấy hết ý nghĩa của những thay đổi này. Với hóa chất, thông quan không phải là điểm kết thúc mà chỉ là một khâu trong cả quá trình quản lý, từ vận chuyển, lưu trữ, bảo quản đến sử dụng và ứng phó khi có sự cố.

Vì vậy, doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc thông quan hàng hóa, mà cần xem là sau khi hàng về kho, trách nhiệm được phân định thế nào, dữ liệu được quản lý ra sao và các yêu cầu về an toàn có được thực hiện đầy đủ hay không.

Thực tế, vẫn có doanh nghiệp xem việc hoàn tất hồ sơ hải quan và đưa hàng qua cửa khẩu là đã hoàn thành nghĩa vụ. Với hóa chất, cách tiếp cận này tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một lô hàng đã thông quan nhưng trách nhiệm về bảo quản, khai báo, an toàn và sử dụng vẫn còn nguyên.

Tôi cho rằng, đây cũng là điểm doanh nghiệp cần thay đổi trong tư duy quản trị. Khi phương thức quản lý chuyển dần từ kiểm soát từng thủ tục sang quản lý theo chuỗi và dựa trên dữ liệu, doanh nghiệp cũng phải quản lý hàng hóa theo cả quá trình. Thông quan chỉ mở đầu cho một chuỗi trách nhiệm tiếp theo, chưa phải là hoàn thành nghĩa vụ tuân thủ.

Phóng viên: Dự thảo cũng làm rõ phạm vi điều chỉnh và trách nhiệm trong khâu lưu trữ, logistics. Sửa đổi này liệu có giúp doanh nghiệp nhập khẩu giảm chi phí tuân thủ và hạn chế rủi ro không, thưa ông?

TS. Đào Cao Sơn: Theo tôi, tác động rõ hơn cả là sẽ giúp doanh nghiệp xác định đúng nghĩa vụ ngay từ đầu, thay vì vừa làm thủ tục vừa xử lý những vướng mắc phát sinh. Trong quản lý hóa chất, phân loại đúng đối tượng là bước đầu tiên để giảm chi phí tuân thủ.

Dự thảo cũng làm rõ nhiều nhóm sản phẩm không thuộc phạm vi điều chỉnh như: dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, một số loại phân bón, pin, ắc quy, vật liệu xây dựng, sơn, mực in, vật liệu nổ công nghiệp... Những sản phẩm có chứa hóa chất nhưng đã được đóng gói hoàn chỉnh để người tiêu dùng hoặc người sử dụng cuối cùng dùng trực tiếp cũng thuộc nhóm loại trừ.

Điều đáng nói không chỉ là có thêm danh mục loại trừ, mà doanh nghiệp có cơ sở rõ hơn để xác định hàng hóa của mình thuộc phạm vi quản lý nào, phải thực hiện nghĩa vụ gì và được miễn thủ tục nào. Nếu phân loại sai, doanh nghiệp có thể phải chuẩn bị những hồ sơ không cần thiết, kéo dài thời gian xử lý và phát sinh chi phí. Ngược lại, xác định đúng ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong ký kết hợp đồng, chuẩn bị hồ sơ và tổ chức logistics.

Bên cạnh việc làm rõ đối tượng, dự thảo cũng đặt ra một yêu cầu khác, đó là làm rõ trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi lưu trữ và vận chuyển. Kho ngoại quan, cảng cạn, trung tâm logistics và dịch vụ 3PL đang tham gia ngày càng sâu vào hoạt động nhập khẩu hóa chất, trong khi trách nhiệm giữa chủ hàng và đơn vị cung cấp dịch vụ chưa phải lúc nào cũng được phân định rành mạch.

Một lô hàng có thể thuộc doanh nghiệp A, lưu tại kho của doanh nghiệp B và do doanh nghiệp C vận chuyển. Khi xảy ra sự cố, không thể chỉ hỏi ai là chủ hàng, mà phải xác định cụ thể ai chịu trách nhiệm ở từng khâu. Vì vậy, doanh nghiệp nhập khẩu không chỉ chọn đơn vị logistics dựa trên giá dịch vụ, mà phải đánh giá cả điều kiện kho, năng lực quản lý an toàn và trách nhiệm ứng phó sự cố.

Theo tôi, chuỗi logistics càng nhiều tầng thì trách nhiệm pháp lý càng phải rõ. Đây không chỉ là yêu cầu của cơ quan quản lý mà còn là cách doanh nghiệp tự bảo vệ mình trước những rủi ro có thể phát sinh sau khi hàng đã thông quan.

Phóng viên: Dữ liệu nhập khẩu, đặc biệt là thông tin về hóa chất kiểm soát đặc biệt đã được đặt ra rõ hơn trong dự thảo. Theo ông, việc số hóa quản lý này sẽ tác động như thế nào đối với doanh nghiệp nhập khẩu?

TS. Đào Cao Sơn: Số hóa sẽ làm thay đổi căn bản cách doanh nghiệp nhìn về hồ sơ tuân thủ.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, cơ sở dữ liệu hóa chất quốc gia hiện chưa cho phép cơ quan quản lý ở địa phương tra cứu đầy đủ thông tin về kê khai nhập khẩu và mục đích sử dụng hóa chất kiểm soát đặc biệt. Khi thông tin không đầy đủ, cơ quan quản lý khó nhận diện rủi ro và việc kiểm tra tại địa bàn cũng kém hiệu quả hơn.

Dự thảo thống nhất sử dụng khái niệm cơ sở dữ liệu chuyên ngành Hóa chất, đồng thời yêu cầu cập nhật thông tin điện tử đối với một số hoạt động. Điều này cho thấy, dữ liệu sẽ không còn là phần việc hành chính đơn thuần mà trở thành một bộ phận của hệ thống quản trị tuân thủ.

Doanh nghiệp nhập khẩu vì thế cần quản lý thống nhất các thông tin quan trọng như: tên hóa chất, thành phần, nồng độ, khối lượng, mục đích sử dụng, nơi lưu trữ và quá trình sử dụng. Những dữ liệu này phải khớp với nhau và có khả năng truy xuất khi cần.

Nói cách khác, số hóa có thể giảm thủ tục, nhưng không làm giảm trách nhiệm. Doanh nghiệp có dữ liệu sạch sẽ có lợi thế rất lớn trong môi trường quản lý mới. Khi dữ liệu được kết nối, cơ quan quản lý có thể phát hiện rủi ro sớm hơn. Ngược lại, nếu dữ liệu của doanh nghiệp thiếu nhất quán, mỗi lần kiểm tra sẽ trở thành một lần doanh nghiệp phải giải trình.

Phóng viên: Với định hướng trên, doanh nghiệp nhập khẩu cần chuẩn bị gì ngay từ bây giờ để không chỉ giảm chi phí tuân thủ mà còn chủ động kiểm soát rủi ro trong quá trình nhập khẩu, lưu trữ và sử dụng hóa chất, thưa ông?

TS. Đào Cao Sơn: Tôi cho rằng, doanh nghiệp cần chuyển dần tâm thế, từ xử lý thủ tục sang chủ động quản trị rủi ro ngay từ trước khi hàng được nhập khẩu. Có thể tập trung vào ba việc sau:

Thứ nhất, rà soát và phân loại lại toàn bộ danh mục hàng hóa nhập khẩu. Phân loại đúng ngay từ đầu sẽ giúp tránh những thủ tục không cần thiết, đồng thời hạn chế rủi ro trong quá trình kiểm tra sau này.

Thứ hai, rà soát lại toàn bộ chuỗi lưu trữ và logistics. Với doanh nghiệp sử dụng kho 3PL, cần quy định thật rõ trong hợp đồng trách nhiệm của từng bên về khai báo, bảo quản, huấn luyện an toàn, phòng ngừa và ứng phó sự cố. Đặc biệt, không nên để tình trạng khi sự cố xảy ra mới bắt đầu xác định ai chịu trách nhiệm. An toàn hóa chất phải được tính từ khâu lựa chọn đối tác và thiết kế quy trình, chứ không phải đợi đến khi có vấn đề mới xử lý.

Thứ ba, chuẩn hóa dữ liệu quản lý hóa chất. Khi cơ quan quản lý đẩy mạnh kết nối, tích hợp và chia sẻ dữ liệu, doanh nghiệp cũng phải quản trị tốt dữ liệu của chính mình. Thông tin trên hồ sơ nhập khẩu, trong kho, về quá trình sử dụng và hồ sơ an toàn phải thống nhất, đầy đủ và có khả năng truy xuất khi cần.

Nhìn chung, khi doanh nghiệp chủ động được từ khâu phân loại hàng hóa đến lưu trữ, dữ liệu và trách nhiệm trong chuỗi logistics, cải cách thủ tục mới thực sự chuyển thành lợi ích: giảm chi phí tuân thủ, tăng tính minh bạch và giúp hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp ổn định, dễ dự báo hơn.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tạo động lực mới cho hợp tác thương mại song phương Việt Nam-Lào

Tạo động lực mới cho hợp tác thương mại song phương Việt Nam-Lào

Chuyến thăm chính thức Lào của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác thương mại Việt Nam - Lào thực chất, bền vững hơn. Từ nền tảng tăng trưởng tích cực, hai nước còn dư địa để kết nối hạ tầng, logistics, sản xuất, thị trường và chuỗi cung ứng, tạo thêm động lực mới trong thời gian tới.
Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp

Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp

Chín tháng năm 2026, thương mại hàng hóa của Việt Nam tăng mạnh, nhưng phía sau con số là yêu cầu chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng chất lượng. Tọa đàm "Nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu trong tiến trình tái cơ cấu ngành Công Thương” đặt trọng tâm vào biến nguồn lực nhập khẩu thành năng lực sản xuất, công nghệ, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh bền vững cho nền kinh tế.
Tiếp tục kéo dài thời gian thông quan tại lối Cốc Nam (Lạng Sơn)

Tiếp tục kéo dài thời gian thông quan tại lối Cốc Nam (Lạng Sơn)

Từ ngày 1/10/2026, hoạt động thông quan tại lối Cốc Nam (Lạng Sơn) - Lũng Nghịu (Bằng Tường), khu vực mốc 1104-1105, tiếp tục được thí điểm từ 7 giờ đến 17 giờ hằng ngày, trong đó việc thông quan trước các ngày cuối tuần, ngày lễ được thực hiện theo hình thức hẹn trước theo quy định của hai nước Việt Nam - Trung Quốc.
Hàng nhập khẩu giá thấp chưa đủ căn cứ cáo buộc chống bán phá giá

Hàng nhập khẩu giá thấp chưa đủ căn cứ cáo buộc chống bán phá giá

Hàng nhập khẩu tăng nhanh và giảm giá là dấu hiệu cần theo dõi, nhưng để yêu cầu điều tra chống bán phá giá, doanh nghiệp phải cung cấp chứng cứ mối liên hệ giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại của ngành sản xuất trong nước. Việc chuẩn bị dữ liệu từ sớm, phối hợp trong ngành và xác định đúng phạm vi hàng hóa là nền tảng để sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại.
Xuất khẩu gạo giảm cả về lượng và giá trị

Xuất khẩu gạo giảm cả về lượng và giá trị

Chín tháng năm 2026, xuất khẩu gạo Việt Nam giảm cả về lượng và giá trị so với cùng kỳ. Trong bối cảnh thị trường thế giới biến động, ngành lúa gạo cần đa dạng hóa thị trường, nâng chất lượng sản phẩm, giá trị và phát triển bền vững.
Đưa ngành gỗ tham gia sâu hơn vào thị trường RCEP

Đưa ngành gỗ tham gia sâu hơn vào thị trường RCEP

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) mở ra không gian thương mại cho ngành gỗ Việt Nam, song cơ hội chỉ chuyển thành tăng trưởng xuất khẩu khi doanh nghiệp nâng năng lực đáp ứng xuất xứ, đổi mới sản phẩm và tiếp cận các thị trường. Yêu cầu đặt ra là chuyển từ gia công sang xây dựng giá trị, thương hiệu và phát triển thị trường bền vững.
Xuất nhập khẩu năm 2026 có thể cán mốc 1.200 tỷ USD

Xuất nhập khẩu năm 2026 có thể cán mốc 1.200 tỷ USD

Trong 4 tháng liên tiếp gần đây, quy mô xuất nhập khẩu đều đạt trên 100 tỷ USD/tháng, riêng tháng 9, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 117,72 tỷ USD. Đây là cơ sở để Việt Nam hướng đến kỷ lục mới 1.000 tỷ USD. Trong trường hợp duy trì kim ngạch như những tháng vừa qua, quy mô xuất nhập khẩu năm 2026 có thể đạt 1.200 tỷ USD.
Xuất khẩu hồ tiêu tiếp tục tăng trưởng

Xuất khẩu hồ tiêu tiếp tục tăng trưởng

Sau 9 tháng năm 2026, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, song thị trường xuất hiện sự phân hóa. Động lực đến từ Hoa Kỳ, Trung Quốc và thị trường châu Á mở rộng dư địa, trong khi châu Âu chậm lại, đặt ra yêu cầu cần nâng chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh.
Xuất khẩu thủy sản, doanh nghiệp chuẩn bị cho kịch bản khó hơn

Xuất khẩu thủy sản, doanh nghiệp chuẩn bị cho kịch bản khó hơn

Xuất khẩu thủy sản trong 9 tháng năm 2026 đạt hơn 9 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu 12 tỷ USD, doanh nghiệp cần chuẩn bị cho kịch bản khó hơn trong những tháng cuối năm.
Việt Nam - Nam Phi: Tăng cường kết nối thị trường

Việt Nam - Nam Phi: Tăng cường kết nối thị trường

Việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Nam Phi lên Đối tác Chiến lược đang mở ra dư địa mới cho hợp tác thương mại và đầu tư giữa hai nước. Trên nền tảng lợi thế bổ trợ, cùng nhu cầu mở rộng thị trường, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, hai bên có cơ sở thúc đẩy kết nối doanh nghiệp và hiện thực hóa các cơ hội hợp tác.
Ấn Độ đưa sản phẩm ống đồng rãnh trong của Việt Nam vào điều tra chống bán phá giá

Ấn Độ đưa sản phẩm ống đồng rãnh trong của Việt Nam vào điều tra chống bán phá giá

Ấn Độ đưa 24 chương trình trợ cấp của Việt Nam vào diện điều tra đối với sản phẩm ống đồng rãnh trong, đồng thời khởi xướng điều tra chống bán phá giá. Vụ việc đặt doanh nghiệp xuất khẩu trước yêu cầu cấp thiết phải rà soát hồ sơ, tham gia đúng hạn và hợp tác đầy đủ để hạn chế nguy cơ bị sử dụng dữ liệu bất lợi.
Kết nối doanh nghiệp với ngân hàng, khơi thông nguồn vốn xuất khẩu cuối năm

Kết nối doanh nghiệp với ngân hàng, khơi thông nguồn vốn xuất khẩu cuối năm

Các doanh nghiệp chuẩn bị bước vào giai đoạn cao điểm sản xuất, kinh doanh cuối năm 2026, nhu cầu vốn lớn, chương trình “Khơi thông nguồn vốn - Kết nối doanh nghiệp với ngân hàng” đã tạo cơ hội để doanh nghiệp trao đổi trực tiếp với ngân hàng, tìm kiếm giải pháp vốn, đồng thời mở rộng kết nối xuất khẩu và hợp tác thương mại.
Khai trương cặp cửa khẩu Khánh Bình - Chrey Thom, thêm cơ hội giao thương với Campuchia

Khai trương cặp cửa khẩu Khánh Bình - Chrey Thom, thêm cơ hội giao thương với Campuchia

Cặp cửa khẩu quốc tế đường bộ Khánh Bình - Chrey Thom chính thức khai trương, mở thêm hướng kết nối hàng hóa giữa An Giang, Đồng bằng sông Cửu Long với tỉnh Kandal và thủ đô Phnom Penh (Campuchia). An Giang đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu qua cặp cửa khẩu này đạt khoảng 1,2 tỷ USD.
Xuất khẩu vượt mốc 434 tỷ USD

Xuất khẩu vượt mốc 434 tỷ USD

Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 9 tiếp tục tăng mạnh, đưa kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm 2026 vượt mốc 434 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nhập khẩu cũng tăng nhanh, khiến cán cân thương mại vẫn ở trạng thái nhập siêu, đặt ra yêu cầu cần nâng sức cạnh tranh và gia tăng giá trị nội địa.
Tái cấu trúc nguồn cung để giữ nhịp xuất khẩu

Tái cấu trúc nguồn cung để giữ nhịp xuất khẩu

Khi quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, yêu cầu đặt ra với doanh nghiệp không chỉ là sản xuất đủ hàng mà còn phải chủ động hơn từ nguồn nguyên liệu, nhà cung cấp đến hồ sơ, dữ liệu xuất xứ. Đây là nền tảng để doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của các thị trường, tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và duy trì nguồn cung ổn định trước những biến động của thương mại toàn cầu.