![]() |
| Ảnh minh họa được hỗ trợ bởi AI. |
Xuất khẩu sang thị trường CPTPP chưa tương xứng với ưu đãi
Quy mô thương mại hàng hóa của Việt Nam tiếp tục mở rộng nhanh. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu tăng 22,4% và nhập khẩu tăng 35,3% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, 94,1% kim ngạch nhập khẩu là nhóm hàng tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu. Cơ cấu này cho thấy nguồn đầu vào nhập khẩu vẫn giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất và xuất khẩu.
|
Ở chiều xuất khẩu, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 300,37 tỷ USD, chiếm 80,1% tổng kim ngạch; nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 337,99 tỷ USD, chiếm 90,2%. Khi sản xuất và xuất khẩu ngày càng mở rộng, yêu cầu đối với nguồn nguyên liệu, nhà cung cấp, khả năng truy xuất và đáp ứng quy tắc xuất xứ cũng trở nên rõ nét hơn.
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một ví dụ điển hình. Theo Bộ Công Thương, năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa Việt Nam và các thành viên CPTPP đạt 124,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 70,6 tỷ USD. Tuy nhiên, tỷ lệ tận dụng ưu đãi thông qua C/O CPTPP mới khoảng 10%, tương đương hơn 6 tỷ USD kim ngạch.
Chia sẻ tại tọa đàm trực tuyến “Từ 'Made in Vietnam' đến 'Made in CPTPP': Tái cấu trúc nguồn cung để đáp ứng xuất xứ và tăng sức chống chịu” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 2/10, bà Trần Thanh Bình, Trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, tỷ lệ tận dụng C/O đã tăng từ 2% năm 2019 lên 10% năm 2025, tăng gấp 4 lần. Dù vậy, so với quy mô xuất khẩu sang thị trường CPTPP, phần kim ngạch thực tế sử dụng ưu đãi vẫn còn khoảng cách đáng kể.
Với dệt may, yêu cầu xuất xứ cho thấy rõ mối liên hệ giữa một đơn hàng xuất khẩu và cả chuỗi cung ứng phía sau. Quy tắc từ sợi trở đi đặt ra yêu cầu đối với các công đoạn từ sợi, dệt, nhuộm đến may phải đáp ứng những điều kiện xuất xứ tương ứng.
Trong khi đó, ngành dệt may Việt Nam mới nội địa hóa khoảng 50% nguyên phụ liệu, còn sản xuất vải trong nước mới đáp ứng khoảng 36% nhu cầu. Theo ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam, khâu sợi đã đáp ứng khá tốt, nhưng điểm nghẽn lớn vẫn nằm ở dệt, nhuộm và hoàn tất vải.
Từ thực tế sản xuất, ông Trần Minh Hiếu, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG cho hay, doanh nghiệp đã rà soát, phân loại lại danh mục nhà cung cấp theo xuất xứ, đồng thời ưu tiên hợp tác dài hạn với những nhà máy đáp ứng yêu cầu. “TNG đưa tiêu chí xuất xứ vào điều kiện lựa chọn nhà cung cấp để đáp ứng được yêu cầu của CPTPP”, ông Hiếu chia sẻ.
Cách tiếp cận này cũng đặt lại bài toán tính chi phí đầu vào. Theo ông Hiếu, với một số loại vải chức năng, vải kỹ thuật, nguồn cung trong nước và trong khối còn hạn chế nên giá có thể cao hơn hàng nhập khẩu. Vì vậy, TNG không chỉ so sánh giá mua ban đầu mà tính cả tổng chi phí đưa nguyên liệu đến nơi sử dụng và phần thuế được hưởng khi hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ CPTPP.
Cuộc đua nguồn cung
Tái cấu trúc nguồn cung vì thế không nhất thiết đồng nghĩa với thay thế toàn bộ nhà cung cấp. Theo ông Trương Văn Cẩm, doanh nghiệp trước hết cần đánh giá toàn bộ chuỗi cung ứng, xác định từng nguồn nguyên liệu đến từ đâu, tỷ lệ bao nhiêu và có đáp ứng tiêu chí xuất xứ hay không.
| Việt Nam hiện tham gia 19 FTA. Trong bối cảnh 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã lên tới 770,14 tỷ USD, câu chuyện tận dụng FTA vì vậy không chỉ nằm ở mức thuế khi hàng hóa đã được sản xuất. Từ lựa chọn nguyên liệu, nhà cung cấp, phương thức sản xuất đến dữ liệu chứng minh xuất xứ, từng khâu đều liên quan đến khả năng đưa một sản phẩm vào chuỗi cung ứng và duy trì đơn hàng. |
Từ đó, các nguồn cung có thể được phân thành nhóm có thể thay thế ngay, nhóm cần thời gian và công nghệ để chuyển đổi và nhóm mà doanh nghiệp phải cân nhắc đầu tư nếu có đủ năng lực tài chính, nhân lực và công nghệ. “Các doanh nghiệp phải đánh giá toàn bộ chuỗi cung ứng, phải xác định được nguồn cung nào có xuất xứ từ đâu, tỷ lệ bao nhiêu, có đáp ứng được các tiêu chí của CPTPP không”, ông Cẩm đặt vấn đề.
Một điểm khác là cơ chế cộng gộp xuất xứ trong CPTPP. Bà Trần Thanh Bình cho biết, Hiệp định có những quy định về cộng gộp tạo điều kiện để doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu từ các thành viên trong khối khi đáp ứng các điều kiện tương ứng. Theo bà Bình, doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm những cơ sở, quốc gia có khả năng cung ứng nguyên liệu để giảm sự phụ thuộc vào một nguồn duy nhất.
Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho rằng, CPTPP vì vậy cần được nhìn nhận không chỉ như một thị trường tiêu thụ. Theo ông Khanh, CPTPP không chỉ là một thị trường tiêu thụ mà còn là một thị trường cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Nguồn nguyên liệu phù hợp mới là một phần của yêu cầu. Phần còn lại là khả năng chứng minh nguồn gốc. Tại TNG, mỗi lô nguyên phụ liệu khi nhập kho được gắn mã QR hoặc mã ERP. Dữ liệu được liên kết với chứng từ, hóa đơn, hợp đồng mua bán và giấy xác nhận xuất xứ; đồng thời kết nối dữ liệu giữa bộ phận mua hàng, kho và xuất khẩu. Theo ông Trần Minh Hiếu, cách làm này giúp doanh nghiệp có thể cung cấp hồ sơ khi khách hàng yêu cầu hoặc khi xuất hiện kiểm tra, xác minh xuất xứ.
“Việc đáp ứng quy tắc xuất xứ không chỉ là công việc riêng của doanh nghiệp xuất khẩu mà liên quan tới cả hệ sinh thái cung cấp nguyên phụ liệu và các cơ quan, tổ chức liên quan đến chứng nhận xuất xứ. Doanh nghiệp cần xây dựng hồ sơ, dữ liệu để minh bạch và có khả năng truy xuất”, bà Bình nhấn mạnh.
Theo bà Bình, Việt Nam đang xây dựng cơ chế để triển khai tự chứng nhận xuất xứ đối với doanh nghiệp đủ điều kiện theo lộ trình CPTPP, trong đó năm 2029 là mốc Việt Nam phải triển khai cơ chế này. Điều này đặt yêu cầu cao hơn đối với khả năng tự kiểm soát dữ liệu và hồ sơ xuất xứ của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh thương mại quốc tế biến động, bài toán nguồn cung cũng được đặt trong phạm vi rộng hơn một hiệp định.
Việt Nam hiện tham gia 19 FTA. Trong bối cảnh 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã lên tới 770,14 tỷ USD, câu chuyện tận dụng FTA vì vậy không chỉ nằm ở mức thuế khi hàng hóa đã được sản xuất. Từ lựa chọn nguyên liệu, nhà cung cấp, phương thức sản xuất đến dữ liệu chứng minh xuất xứ, từng khâu đều liên quan đến khả năng đưa một sản phẩm vào chuỗi cung ứng và duy trì đơn hàng.
Nhấn mạnh phải thiết kế lại chuỗi cung ứng, ông Ngô Chung Khanh cho rằng, quy tắc xuất xứ trong CPTPP là một cách để chúng ta thiết kế lại chuỗi cung ứng. Nếu muốn xây dựng chuỗi cung ứng bền vững và có khả năng chống chịu thì “Made in CPTPP” cần được xem như một chiến lược.