Thứ tư 07/10/2026 20:20
Thời tiết: Hà Nội 26°C
Đà Nẵng 25°C
Cà Mau 26°C
Hải Phòng 27°C
TP Hồ Chí Minh 26°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Hàng nhập khẩu giá thấp chưa đủ căn cứ cáo buộc chống bán phá giá

Duy Hưng
Hàng nhập khẩu tăng nhanh và giảm giá là dấu hiệu cần theo dõi, nhưng để yêu cầu điều tra chống bán phá giá, doanh nghiệp phải cung cấp chứng cứ mối liên hệ giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại của ngành sản xuất trong nước. Việc chuẩn bị dữ liệu từ sớm, phối hợp trong ngành và xác định đúng phạm vi hàng hóa là nền tảng để sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại.
Hàng nhập khẩu giá thấp chưa đủ căn cứ cáo buộc chống bán phá giá
Hàng nhập khẩu giá thấp chưa đủ căn cứ cáo buộc chống bán phá giá. Ảnh minh họa: Duy Hưng.

Từ sức ép thị trường đến chứng cứ bán phá giá

Khi hàng nhập khẩu tăng mạnh, giá bán giảm sâu trong lúc doanh nghiệp nội địa mất thị phần, suy giảm lợi nhuận, nhu cầu sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại có thể xuất hiện. Tuy nhiên, việc phản ánh khó khăn chỉ là điểm khởi đầu, muốn chuyển thành hồ sơ yêu cầu điều tra, doanh nghiệp cần giải thích được nguyên nhân thiệt hại bằng thông tin có thể kiểm chứng.

Theo ông Tô Thái Ninh, Trưởng phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), nhận diện sớm biến động nhập khẩu, giá cả và sức khỏe doanh nghiệp giúp lựa chọn công cụ phù hợp. Mỗi biện pháp phòng vệ thương mại có cơ sở xem xét riêng, trong đó chống bán phá giá gắn với hành vi bán phá giá, chống trợ cấp liên quan đến trợ cấp của chính phủ cho doanh nghiệp của họ, trong khi biện pháp tự vệ hướng tới sự gia tăng đột biến của hàng hóa nhập khẩu.

Trường hợp bán phá giá xảy ra khi hàng hóa nước ngoài được bán vào thị trường Việt Nam với giá thấp hơn giá trị thực của chúng tại chính thị trường xuất xứ, để xác định hành vi và biên độ phá giá, cần so sánh giá xuất khẩu với giá trị thông thường. Vì vậy, hàng nhập khẩu rẻ hơn hàng nội địa không phải hiển nhiên là bán phá giá, mà doanh nghiệp phải thu thập thông tin về mức giá dùng để so sánh, nguồn dữ liệu và các điều chỉnh cần thiết để xác lập cáo buộc.

Các nguồn thông tin xác định giá thông thường, gồm giao dịch thực tế tại thị trường nội địa nước xuất khẩu, giá xuất khẩu sang nước thứ ba, giá tự xây dựng từ chi phí sản xuất và tỷ lệ lợi nhuận hợp lý. Trong khi đó, giá xuất khẩu bao gồm các loại chi phí như vận chuyển đường biển, bảo hiểm, bốc dỡ, vận chuyển nội địa.

Do đó, việc lựa chọn phương pháp phải đáp ứng điều kiện áp dụng, không thể sử dụng tùy ý mức giá có lợi cho bên yêu cầu. Hóa đơn, hợp đồng, báo giá và chứng từ liên quan giúp giải thích cách tính, thay vì để biên độ cáo buộc phụ thuộc vào ước đoán thiếu căn cứ.

Đáng chú ý, ranh giới pháp lý của vụ việc được quyết định bởi việc chứng minh sự tương đồng giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa. Để xác định chính xác hàng hóa bị đề nghị điều tra và hàng hóa tương tự được sản xuất trong nước cần căn cứ vào mã HS; hồ sơ mô tả chi tiết sản phẩm; đặc tính kỹ thuật, vật lý, hóa học; đồng thời cung cấp thông tin về năng lực và sản lượng sản xuất nội địa cùng báo cáo từ hiệp hội, cơ quan quản lý và đơn vị nghiên cứu. Đây cũng là yếu tố tiên quyết ảnh hưởng tới việc xác định tư cách đứng đơn khi tiến hành kiện điều tra phòng vệ thương mại.

Theo Điều 79 Luật Quản lý ngoại thương, sản lượng hàng hóa của các nhà sản xuất nộp hồ sơ và ủng hộ yêu cầu phải chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng hàng hóa tương tự của ngành sản xuất trong nước, đồng thời lớn hơn sản lượng của nhóm phản đối việc yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Những điều kiện này cho thấy, chuẩn bị hồ sơ cần sự phối hợp ngay từ đầu giữa Hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp nhằm thống nhất phạm vi sản phẩm và kết nối nguồn thông tin.

Hàng nhập khẩu giá thấp chưa đủ căn cứ cáo buộc chống bán phá giá
Doanh nghiệp cần đánh giá chi phí, nhân sự và khả năng phối hợp xuyên suốt quá trình điều tra. Ảnh: Duy Hưng.

Chứng minh thiệt hại bằng dữ liệu nhất quán

Hồ sơ yêu cầu điều tra phòng vệ thương mại với cáo buộc bán phá giá cần liên kết chặt chẽ các nội dung gồm hành vi bán phá giá, thiệt hại của ngành sản xuất trong nước và mối quan hệ nhân quả. Bằng chứng về giá chỉ giải quyết một phần của yêu cầu, doanh nghiệp còn phải thể hiện tác động của hành vi này đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Theo đó, các chỉ tiêu cần xem xét trải rộng từ doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền, khả năng huy động vốn đến lượng bán hàng, thị phần, sản lượng, mức sử dụng công suất tồn kho, lao động... Dữ liệu cần có tài liệu tài chính, sổ sách kế toán và chứng từ để đối chiếu, thay vì chỉ nêu nhận định chung rằng doanh nghiệp đang gặp khó.

Đặc biệt, hồ sơ phải làm rõ thiệt hại nào do hàng nhập khẩu bị cáo buộc bán phá giá gây ra; đồng thời lưu ý việc phân tích các yếu tố khác như hàng nhập khẩu từ nước thứ ba, cạnh tranh giữa nhà sản xuất nội địa, thay đổi nhu cầu, phương thức tiêu thụ hoặc kết quả xuất khẩu.

Từ thực tiễn cho thấy, việc theo đuổi vụ việc phòng vệ thương mại đòi hỏi nguồn lực đáng kể về nhân sự, dữ liệu, chi phí và thời gian, do đó cần tăng cường hướng dẫn hồ sơ, thông tin thị trường và đối thoại để tháo gỡ vướng mắc. Bên canh đó, cần phát huy vai trò tập hợp doanh nghiệp, chia sẻ thông tin và cân đối lợi ích giữa nhà sản xuất nguyên liệu với doanh nghiệp hạ nguồn; đào tạo theo ngành và xây dựng tài liệu mẫu về chứng từ, dữ liệu kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Theo nhận định của ông Tô Thái Ninh, khởi kiện phòng vệ thương mại là một dự án đầu tư dài hạn, cần đánh giá kỹ lưỡng để đảm bảo tỷ suất hoàn vốn (ROI) về mặt bảo vệ thị trường. Doanh nghiệp cần đánh giá chi phí, nhân sự và khả năng phối hợp xuyên suốt quá trình điều tra, đồng thời chủ động tham vấn cơ quan điều tra khi chuẩn bị tài liệu.

Hiệu quả phòng vệ thương mại bắt đầu từ khả năng nhận diện đúng vấn đề và chứng minh bằng dữ liệu đáng tin cậy. Chuẩn bị hồ sơ sớm giúp ngành sản xuất trong nước chủ động bảo vệ quyền lợi hợp pháp, đồng thời hạn chế yêu cầu thiếu căn cứ. Về lâu dài, công cụ này cần đi cùng đổi mới công nghệ và nâng năng lực cạnh tranh để tạo nền tảng phát triển bền vững.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xuất khẩu gạo giảm cả về lượng và giá trị

Xuất khẩu gạo giảm cả về lượng và giá trị

Chín tháng năm 2026, xuất khẩu gạo Việt Nam giảm cả về lượng và giá trị so với cùng kỳ. Trong bối cảnh thị trường thế giới biến động, ngành lúa gạo cần đa dạng hóa thị trường, nâng chất lượng sản phẩm, giá trị và phát triển bền vững.
Đưa ngành gỗ tham gia sâu hơn vào thị trường RCEP

Đưa ngành gỗ tham gia sâu hơn vào thị trường RCEP

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) mở ra không gian thương mại cho ngành gỗ Việt Nam, song cơ hội chỉ chuyển thành tăng trưởng xuất khẩu khi doanh nghiệp nâng năng lực đáp ứng xuất xứ, đổi mới sản phẩm và tiếp cận các thị trường. Yêu cầu đặt ra là chuyển từ gia công sang xây dựng giá trị, thương hiệu và phát triển thị trường bền vững.
Xuất nhập khẩu năm 2026 có thể cán mốc 1.200 tỷ USD

Xuất nhập khẩu năm 2026 có thể cán mốc 1.200 tỷ USD

Trong 4 tháng liên tiếp gần đây, quy mô xuất nhập khẩu đều đạt trên 100 tỷ USD/tháng, riêng tháng 9, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 117,72 tỷ USD. Đây là cơ sở để Việt Nam hướng đến kỷ lục mới 1.000 tỷ USD. Trong trường hợp duy trì kim ngạch như những tháng vừa qua, quy mô xuất nhập khẩu năm 2026 có thể đạt 1.200 tỷ USD.
Xuất khẩu hồ tiêu tiếp tục tăng trưởng

Xuất khẩu hồ tiêu tiếp tục tăng trưởng

Sau 9 tháng năm 2026, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, song thị trường xuất hiện sự phân hóa. Động lực đến từ Hoa Kỳ, Trung Quốc và thị trường châu Á mở rộng dư địa, trong khi châu Âu chậm lại, đặt ra yêu cầu cần nâng chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh.
Xuất khẩu thủy sản, doanh nghiệp chuẩn bị cho kịch bản khó hơn

Xuất khẩu thủy sản, doanh nghiệp chuẩn bị cho kịch bản khó hơn

Xuất khẩu thủy sản trong 9 tháng năm 2026 đạt hơn 9 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu 12 tỷ USD, doanh nghiệp cần chuẩn bị cho kịch bản khó hơn trong những tháng cuối năm.
Việt Nam - Nam Phi: Tăng cường kết nối thị trường

Việt Nam - Nam Phi: Tăng cường kết nối thị trường

Việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Nam Phi lên Đối tác Chiến lược đang mở ra dư địa mới cho hợp tác thương mại và đầu tư giữa hai nước. Trên nền tảng lợi thế bổ trợ, cùng nhu cầu mở rộng thị trường, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, hai bên có cơ sở thúc đẩy kết nối doanh nghiệp và hiện thực hóa các cơ hội hợp tác.
Ấn Độ đưa sản phẩm ống đồng rãnh trong của Việt Nam vào điều tra chống bán phá giá

Ấn Độ đưa sản phẩm ống đồng rãnh trong của Việt Nam vào điều tra chống bán phá giá

Ấn Độ đưa 24 chương trình trợ cấp của Việt Nam vào diện điều tra đối với sản phẩm ống đồng rãnh trong, đồng thời khởi xướng điều tra chống bán phá giá. Vụ việc đặt doanh nghiệp xuất khẩu trước yêu cầu cấp thiết phải rà soát hồ sơ, tham gia đúng hạn và hợp tác đầy đủ để hạn chế nguy cơ bị sử dụng dữ liệu bất lợi.
Kết nối doanh nghiệp với ngân hàng, khơi thông nguồn vốn xuất khẩu cuối năm

Kết nối doanh nghiệp với ngân hàng, khơi thông nguồn vốn xuất khẩu cuối năm

Các doanh nghiệp chuẩn bị bước vào giai đoạn cao điểm sản xuất, kinh doanh cuối năm 2026, nhu cầu vốn lớn, chương trình “Khơi thông nguồn vốn - Kết nối doanh nghiệp với ngân hàng” đã tạo cơ hội để doanh nghiệp trao đổi trực tiếp với ngân hàng, tìm kiếm giải pháp vốn, đồng thời mở rộng kết nối xuất khẩu và hợp tác thương mại.
Khai trương cặp cửa khẩu Khánh Bình - Chrey Thom, thêm cơ hội giao thương với Campuchia

Khai trương cặp cửa khẩu Khánh Bình - Chrey Thom, thêm cơ hội giao thương với Campuchia

Cặp cửa khẩu quốc tế đường bộ Khánh Bình - Chrey Thom chính thức khai trương, mở thêm hướng kết nối hàng hóa giữa An Giang, Đồng bằng sông Cửu Long với tỉnh Kandal và thủ đô Phnom Penh (Campuchia). An Giang đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu qua cặp cửa khẩu này đạt khoảng 1,2 tỷ USD.
Xuất khẩu vượt mốc 434 tỷ USD

Xuất khẩu vượt mốc 434 tỷ USD

Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 9 tiếp tục tăng mạnh, đưa kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm 2026 vượt mốc 434 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nhập khẩu cũng tăng nhanh, khiến cán cân thương mại vẫn ở trạng thái nhập siêu, đặt ra yêu cầu cần nâng sức cạnh tranh và gia tăng giá trị nội địa.
Tái cấu trúc nguồn cung để giữ nhịp xuất khẩu

Tái cấu trúc nguồn cung để giữ nhịp xuất khẩu

Khi quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, yêu cầu đặt ra với doanh nghiệp không chỉ là sản xuất đủ hàng mà còn phải chủ động hơn từ nguồn nguyên liệu, nhà cung cấp đến hồ sơ, dữ liệu xuất xứ. Đây là nền tảng để doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của các thị trường, tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và duy trì nguồn cung ổn định trước những biến động của thương mại toàn cầu.
Hà Nội: Xuất khẩu tăng tốc tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Hà Nội: Xuất khẩu tăng tốc tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số năm 2026, xuất khẩu của Hà Nội được kỳ vọng trở thành một trong những động lực quan trọng, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị. Những kết quả đạt được trong 9 tháng đang tạo nền tảng để Hà Nội tăng tốc xuất khẩu chặng cuối năm.
Sự đồng hành của ngành Thuế, Hải quan sẽ thúc đẩy tăng trưởng cho dệt may Việt Nam

Sự đồng hành của ngành Thuế, Hải quan sẽ thúc đẩy tăng trưởng cho dệt may Việt Nam

Trong chặng nước rút cuối năm, ngành dệt may Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa giữ đơn hàng, vừa nâng hiệu quả xuất khẩu trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Theo ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), sự đồng hành của ngành Thuế và ngành Hải quan sẽ góp phần giảm chi phí tuân thủ, khơi thông nguồn lực và nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Điểm nghẽn logistics vẫn là khả năng kết nối và tổ chức khai thác

Điểm nghẽn logistics vẫn là khả năng kết nối và tổ chức khai thác

Tám tháng năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2025. Dòng hàng ngày càng lớn, trong khi chi phí logistics vẫn ở mức tương đương 16-17% GDP. Khi cảng biển, kho bãi, trung tâm logistics và các tuyến vận tải liên tục được đầu tư, bài toán đặt ra không chỉ là có thêm hạ tầng, mà làm thế nào để các mắt xích kết nối thông suốt, giảm những khoản chi phí phát sinh trên hành trình của hàng hóa.
395 tỷ USD nhập khẩu và dòng chảy sản xuất trong nước

395 tỷ USD nhập khẩu và dòng chảy sản xuất trong nước

Tám tháng năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 395,3 tỷ USD hàng hóa, tăng 35,3% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, hơn 94% trong số này là máy móc, thiết bị, nguyên liệu và các loại tư liệu sản xuất. Đằng sau dòng hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất là câu chuyện về năng lực của doanh nghiệp Việt, từ sử dụng máy móc, nguyên liệu đến từng bước tham gia sâu hơn vào những công đoạn tạo ra giá trị.