![]() |
| Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân phát biểu tại Diễn đàn Phòng vệ thương mại năm 2026. Ảnh: Cục Phòng vệ thương mại. |
Sức ép gia tăng từ dòng thương mại chuyển hướng
Kinh tế và thương mại thế giới đang chứng kiến những biến động nhanh, phức tạp khi cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng sâu sắc, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và chuỗi cung ứng tiếp tục được tái cấu trúc. Nhiều quốc gia đồng thời đẩy mạnh chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước và bảo vệ các ngành công nghiệp có ý nghĩa quan trọng.
Tại Diễn đàn Phòng vệ thương mại (PVTM) năm 2026, diễn ra ngày 18/9 tại Hải Phòng, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh, một trong những vấn đề đáng chú ý là tình trạng dư thừa công suất tại một số ngành sản xuất trên thế giới.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân, khi năng lực sản xuất vượt quá khả năng hấp thụ của thị trường nội địa, hàng hóa có xu hướng tìm đến các thị trường xuất khẩu mới; đồng thời nếu thị trường lớn áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu, dòng thương mại có thể tiếp tục chuyển hướng sang những thị trường khác, tạo sức ép đối với ngành sản xuất của nước nhập khẩu.
Đối với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở cao và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, những thay đổi này vừa mở ra cơ hội mở rộng thị trường, vừa làm gia tăng nguy cơ cạnh tranh không công bằng, gian lận xuất xứ và lẩn tránh biện pháp PVTM.
Thực tiễn cho thấy, công tác PVTM của Việt Nam hiện đang được triển khai chủ động trên cả hai chiều nhập khẩu và xuất khẩu.
Theo Cục PVTM (Bộ Công Thương), Việt Nam đã khởi xướng 62 vụ việc điều tra PVTM và đang duy trì 37 biện pháp đối với hàng hóa nhập khẩu. Việc điều tra và áp dụng các biện pháp được thực hiện trên cơ sở quy định pháp luật, bằng chứng khách quan và các cam kết quốc tế, qua đó góp phần xử lý tác động bất lợi của hàng hóa nhập khẩu, bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng và bảo vệ hợp lý năng lực sản xuất trong nước.
Ở chiều ngược lại, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đang phải đối mặt với số lượng vụ việc ngày càng lớn. Tính đến giữa tháng 9/2026, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã bị điều tra PVTM trong 327 vụ việc tại 27 thị trường. Riêng 9 tháng đầu năm 2026 phát sinh 27 vụ việc mới, nhiều hơn 4 vụ so với tổng số vụ việc của cả năm 2025.
Số vụ việc gia tăng cho thấy, rủi ro PVTM không còn tập trung ở một vài mặt hàng hoặc thị trường truyền thống. Doanh nghiệp xuất khẩu phải đối diện với phạm vi điều tra rộng hơn, yêu cầu cung cấp dữ liệu chặt chẽ hơn, cùng nguy cơ bị xem xét đồng thời về bán phá giá, trợ cấp, xuất xứ và hành vi lẩn tránh biện pháp.
Phân tích xu hướng sử dụng công cụ PVTM trên thế giới, ông Lê Sỹ Giảng, Giám đốc Công ty TNHH GH Consults, cho biết trong bối cảnh dư thừa công suất và cạnh tranh về giá ngày càng gay gắt, các sản phẩm công nghiệp cơ bản như kim loại, hóa chất, nhựa và vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng lớn trong các vụ việc. Các biện pháp chống lẩn tránh và chống gian lận xuất xứ cũng được áp dụng ngày càng rộng rãi với nhiều hình thức khác nhau.
Cùng với những công cụ PVTM truyền thống, doanh nghiệp còn phải theo dõi các chính sách thương mại mới như thuế quan theo Điều 232, Điều 301 của Hoa Kỳ và Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu. Điều này đặt ra yêu cầu nhận diện rủi ro từ sớm, thay vì chỉ bắt đầu xử lý khi cơ quan nước ngoài đã khởi xướng điều tra.
![]() |
| Phòng vệ thương mại không phải là chạy theo xu hướng bảo hộ, mà là phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Ảnh: Cục Cục Phòng vệ thương mại. |
Bảo vệ để nâng cao năng lực cạnh tranh
Phát biểu tại Diễn đàn, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh, PVTM không phải là chạy theo xu hướng bảo hộ, mà là phải nâng cao năng lực quản trị thương mại, chủ động nhận diện rủi ro và sử dụng hiệu quả các công cụ hợp pháp để bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng.
Biện pháp PVTM có thể tạo ra một “khoảng thời gian chiến lược” cho doanh nghiệp. Khoảng thời gian này chỉ thực sự có ý nghĩa nếu được doanh nghiệp sử dụng để cải thiện quản trị, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và củng cố năng lực cạnh tranh. Nếu doanh nghiệp chỉ trông chờ vào biện pháp bảo vệ mà không tiếp tục đổi mới, lợi ích mang lại sẽ không bền vững.
Từ thực tế đó, công tác PVTM trong giai đoạn tới cần chuyển từ phản ứng với từng vụ việc sang chủ động quản trị rủi ro thương mại.
Trước hết, hoạt động cảnh báo sớm cần được tăng cường thông qua việc theo dõi biến động dòng thương mại, giá nhập khẩu, năng lực sản xuất và tình trạng dư thừa công suất tại các thị trường lớn.
Dữ liệu cũng trở thành điều kiện then chốt bởi PVTM là lĩnh vực dựa trên bằng chứng. Doanh nghiệp và hiệp hội cần từng bước chuẩn hóa và xây dựng hệ thống dữ liệu ngành để có thể phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường và sẵn sàng hành động khi cần thiết.
Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp, cơ quan hải quan, các bộ, ngành và địa phương cần được tăng cường trong toàn bộ quá trình từ cảnh báo, điều tra đến giám sát thực thi và chống lẩn tránh biện pháp; đồng thời gắn PVTM với chính sách phát triển công nghiệp.
Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục PVTM cho rằng, PVTM không thể thay thế chính sách công nghiệp, nhưng chính sách phát triển ngành cũng khó đạt hiệu quả nếu doanh nghiệp phải cạnh tranh trong một môi trường bị bóp méo bởi hành vi thương mại không công bằng.
Để nâng cao khả năng chủ động của doanh nghiệp, Cục PVTM tiếp tục hướng dẫn nhận diện dấu hiệu có thể dẫn đến khởi xướng điều tra, xác định phạm vi hàng hóa, ngành sản xuất trong nước, chứng minh thiệt hại và xây dựng hồ sơ yêu cầu điều tra. Việc thu thập dữ liệu phải bảo đảm tính đại diện, đầy đủ và thống nhất, tránh tình trạng chỉ chuẩn bị khi thiệt hại đã trở nên nghiêm trọng.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới những mục tiêu cao hơn về tăng trưởng, năng suất và chất lượng nền kinh tế, PVTM cần được nhìn nhận như một bộ phận của quản trị rủi ro trong sản xuất, kinh doanh. Công cụ này chỉ phát huy giá trị lâu dài khi tạo ra không gian cạnh tranh công bằng để doanh nghiệp đầu tư, đổi mới và lớn mạnh.
Vì vậy, yêu cầu xuyên suốt không phải là bảo vệ doanh nghiệp khỏi cạnh tranh, mà là bảo vệ để doanh nghiệp có điều kiện nâng cao năng lực và cạnh tranh bền vững.