![]() |
| TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành liên kết phát triển kinh tế- xã hội, trong đó có logistics. Ảnh: Phú Quốc |
Logistics phải trở thành hệ thống chung của cả vùng
Theo TS. Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, một nghịch lý hiện nay là Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng rất lớn về lúa gạo, thủy hải sản, trái cây nhưng giá trị gia tăng của nhiều sản phẩm còn thấp.
Do đó, liên kết trong thời gian tới không nên chỉ là “Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất – TP. Hồ Chí Minh tiêu thụ hoặc xuất khẩu”, mà phải hình thành một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Trong đó, logistics phải được coi là một hệ thống chung của hai vùng. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sức cạnh tranh của Đồng bằng sông Cửu Long.
Thời gian qua Nhà nước đã đầu tư rất lớn cho cao tốc, cầu, đường bộ. Đây là điều hết sức cần thiết. Tuy nhiên, với một vùng có mạng lưới sông ngòi đặc biệt như Đồng bằng sông Cửu Long, đường thủy phải được coi là một trong những xương sống của hệ thống logistics liên vùng.
Hàng hóa từ vùng sản xuất có thể được tập kết tại các trung tâm logistics, sau đó vận chuyển bằng đường thủy, đường bộ và trong tương lai gần là đường sắt đến các cảng biển quốc tế. Đặc biệt, Đồng bằng sông Cửu Long cần phát triển mạnh logistics lạnh.
“Đối với trái cây, thủy sản và thực phẩm, nếu không có hệ thống bảo quản, kho lạnh và vận chuyển lạnh đồng bộ thì chúng ta khó có thể xây dựng chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao”, TS. Trần Du Lịch nói.
Đối với vai trò của TP. Hồ Chí Minh, TS. Trần Du Lịch cho rằng cần được nhìn nhận lại. TP. Hồ Chí Minh không nhất thiết phải trở thành nơi tập trung tất cả hàng hóa của Đồng bằng sông Cửu Long. Ngược lại, cần làm sao để hàng hóa có thể đi thẳng từ các trung tâm sản xuất đến các cảng biển thuận lợi nhất. Không nên xem việc xây dựng các cảng biển ở Đồng bằng sông Cửu Long như sự làm giảm vai trò của cảng biển TP. Hồ Chí Minh.
Vai trò quan trọng hơn của TP. Hồ Chí Minh là trở thành trung tâm điều phối chuỗi giá trị và logistics của toàn vùng. Thành phố có thể cung cấp tài chính, bảo hiểm, công nghệ, dữ liệu, thương mại quốc tế, dịch vụ logistics chất lượng cao và kết nối doanh nghiệp với thị trường toàn cầu.
Đồng bộ hạ tầng, kết nối các cực logistics
Để thúc đẩy chương trình hợp tác, TS. Trần Du Lịch kiến nghị trước hết phải có cơ chế điều phối liên vùng đủ mạnh, không để mỗi địa phương quy hoạch và đầu tư theo lợi ích riêng.
Thứ hai, phải thống nhất quy hoạch hạ tầng giao thông, các trung tâm logistics, kho lạnh và các đầu mối cảng biển của hai vùng. Về giao thông - xương sống của logistics, tập trung và ưu tiên thực hiện sớm nhất việc khai thông hệ thống giao thông thủy; xây dựng tuyến đường sắt dùng chung cho vận chuyển hành khách và hàng hóa nối kết Cần Thơ và TP. Hồ Chí Minh như đã quy hoạch; tuyến đường bộ ven biển nối Cà Mau đến đường Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh.
Thứ ba, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của liên kết. Nhà nước tạo thể chế và hạ tầng; còn doanh nghiệp phải là chủ thể tổ chức các chuỗi sản xuất, chế biến, logistics và thị trường.
Từ góc độ địa phương, ông Trương Văn Liếp, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Tây Ninh chỉ rõ, kết nối hạ tầng giao thông là một trong những nền tảng quan trọng mở ra không gian phát triển liên vùng.
Đối với Tây Ninh, việc thúc đẩy các công trình giao thông chiến lược, trong đó có Dự án cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài giai đoạn 1, khởi công ngày 19/12/2025, là một minh chứng rõ nét hiệu quả của liên kết vùng.
Dự án được kỳ vọng tăng cường kết nối giữa Tây Ninh với TP. Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ và hành lang kinh tế xuyên Á.
Tương tự, bà Nguyễn Kim Tuyến, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Đồng Tháp cho biết, địa phương đang tập trung hoàn thành các dự án kết nối đi qua địa bàn như triển khai đầu tư dự án đường sắt TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau; dự án đường bộ ven biển kết nối đồng bộ toàn tuyến từ TP. Hồ Chí Minh - Cà Mau; Trục giao thông đô thị TP. Hồ Chí Minh – Tây Ninh – Đồng Tháp (Quốc lộ 50B). Đồng thời, tiếp tục đề xuất, triển khai dự án giao thông thủy kết nối TP. Hồ Chí Minh - Đồng bằng sông Cửu Long.
Đề xuất giải pháp về kết nối hạ tầng, logistics và phát triển kinh tế cửa khẩu, ông Phạm Minh Tâm, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh An Giang đề xuất, cần tăng cường hợp tác hạ tầng kết nối TP. Hồ Chí Minh với Đồng bằng sông Cửu Long, các cửa khẩu biên giới và không gian kinh tế biển; từng bước hình thành các chuỗi logistics gắn vùng sản xuất, khu kinh tế cửa khẩu, cảng biển và hệ thống phân phối kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với thị trường quốc tế.
Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác, liên kết vùng sản xuất nguyên liệu nông nghiệp, thủy sản của An Giang với hệ thống chế biến, phân phối và xuất khẩu của TP. Hồ Chí Minh. Tăng cường kết nối doanh nghiệp, tập đoàn tại TP. Hồ Chí Minh đầu tư các dự án ưu tiên của An Giang trong nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, logistics, năng lượng, thương mại và dịch vụ.
Trong khi đó, ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Sở Xây dựng TP. Đồng Nai chỉ ra rằng, giao thông kết nối giữa TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai trong giai đoạn tới không nên chỉ được nhìn nhận dưới góc độ giải quyết ùn tắc hoặc tăng năng lực đi lại giữa hai địa phương.
Mục tiêu lớn hơn là hình thành một không gian kinh tế - đô thị liên kết, trong đó TP. Hồ Chí Minh tiếp tục là trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ và đổi mới sáng tạo; Đồng Nai phát huy vai trò là cực phát triển song hành với công nghiệp, đô thị, dịch vụ, logistics và đặc biệt là cửa ngõ hàng không quốc tế của vùng với Cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Vì vậy, Đồng Nai đề nghị trong giai đoạn 2026 - 2030, hai địa phương cùng tập trung vào bốn trụ cột: hoàn thiện mạng lưới đường bộ và các cầu vượt sông Đồng Nai; hình thành các hành lang kết nối trực tiếp sân bay Long Thành với TP. Hồ Chí Minh và các đầu mối cảng biển, logistics; phát triển hệ thống đường sắt, metro liên vùng, tạo phương thức vận tải công cộng khối lượng lớn giữa hai địa phương; tổ chức khai thác đồng bộ toàn mạng lưới, thay vì phát triển từng công trình một cách độc lập.
Với vai trò liên kết vùng, ông Hoàng Vũ Thảnh, Giám đốc Sở Tài chính TP. Hồ Chí Minh thông tin, Thành phố đang lập quy hoạch tổng thể cùng các địa phương trong vùng, định hướng phát triển theo các trục liên kết lớn.
Đối với vùng Đông Nam Bộ, TP. Hồ Chí Minh định hướng hình thành trục động lực công nghiệp và kinh tế biển. Hạ tầng kết nối được xây dựng theo mô hình đa phương thức, với hệ thống cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, Biên Hòa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh – Mộc Bài, TP. Hồ Chí Minh – Chơn Thành.
Với Đồng bằng sông Cửu Long, TP. Hồ Chí Minh định hướng phát triển hành lang nông sản và đô thị Tây Nam, tập trung giải quyết bài toán vận tải hàng hóa khối lượng lớn và rút ngắn thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho hàng hóa xuất nhập khẩu.
Từ thực tế trên, TS. Trần Du Lịch nhận định, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ đang đứng trước một cơ hội rất lớn. Nếu kết nối tốt, không chỉ giải quyết bài toán logistics hay tiêu thụ nông sản, mà có thể hình thành một cực tăng trưởng mới có sức cạnh tranh quốc tế.