Thứ năm 01/10/2026 13:09
Thời tiết: Hà Nội 35°C
Đà Nẵng 33°C
Cà Mau 31°C
Hải Phòng 33°C
TP Hồ Chí Minh 33°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Dệt may Việt tăng sức cạnh tranh, hướng tới mục tiêu 48 tỷ USD

Trọng Nghĩa (Thực hiện)
Bảy tháng năm 2026 ghi nhận sự phục hồi của ngành dệt may Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 27 tỷ USD, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 48 tỷ USD cho cả năm là khả thi, song đòi hỏi doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng tăng trưởng, tối ưu hóa chi phí, chủ động thích ứng trước những biến động thị trường. Trao đổi với phóng viên, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), đã đưa ra những nhận định, phân tích rõ thách thức và giải pháp thực hiện để hoàn thành mục tiêu cho chặng đường phía trước.

Phóng viên: Trong bối cảnh thị trường dệt may toàn cầu còn nhiều biến động, ngành dệt may Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng trong 7 tháng năm 2026. Ông đánh giá thế nào về kết quả này và những yếu tố đang tạo động lực cho ngành?

Ông Trương Văn Cẩm: Năm 2026, doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải đối mặt với khá nhiều khó khăn, từ những thay đổi trong chính sách thương mại, thuế quan của Hoa Kỳ đến xung đột địa chính trị tại Trung Đông làm chi phí logistics tăng cao. Tuy nhiên, kết quả xuất khẩu 7 tháng cho thấy, ngành dệt may vẫn duy trì được sức chống chịu và khả năng thích ứng trước những biến động toàn cầu.

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong 7 tháng năm 2026 ước đạt trên 27 tỷ USD, tăng nhẹ 2,7% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 7/2026 kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 4,67 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng 6 và tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. So với mức tăng 1,7% trong 6 tháng đầu năm, kết quả tháng 7 cho thấy, hoạt động xuất khẩu dệt may đã có sự cải thiện.

Một tín hiệu đáng chú ý khác là xuất siêu của ngành dệt may Việt Nam sau 7 tháng năm 2026 đạt khoảng 11 tỷ USD, tăng so với mức trên 9 tỷ USD sau 6 tháng. Điều đó cho thấy, ngành dệt may vẫn khai thác tương đối tốt nguồn nguyên liệu trong nước và duy trì được đóng góp tích cực vào cán cân thương mại.

Về cơ cấu, xuất khẩu xơ sợi 7 tháng năm 2026 đạt 2,73 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; vải đạt 1,76 tỷ USD, tăng 9,6%; phụ liệu dệt may đạt 929 triệu USD, tăng 11,2%. Trong khi đó, xuất khẩu hàng may mặc đạt 21,13 tỷ USD, tăng nhẹ 0,7% so với cùng kỳ.

Kết quả này cho thấy, động lực của ngành dệt may Việt Nam không chỉ nằm ở việc gia tăng sản lượng may mặc mà còn ở sự vận động của các khâu khác trong chuỗi cung ứng. Đây là cơ sở để doanh nghiệp dệt may tiếp tục nâng cao giá trị, chủ động hơn về nguyên phụ liệu và thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Phóng viên: Sức ép từ chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang đặt ngành dệt may Việt Nam trước một cuộc cạnh tranh quyết liệt hơn, nhất là khi một số đối thủ có lợi thế về thuế. Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp và thị phần xuất khẩu của Việt Nam?

Ông Trương Văn Cẩm: Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt trên 10,84 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 40,13% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Vì vậy, những thay đổi trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp.

ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS),
Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký VITAS. Ảnh: Trọng Nghĩa.

Điểm đáng lưu ý là Việt Nam đang chịu mức thuế 12,5% theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ năm 1974. Trong khi đó, một số quốc gia xuất khẩu dệt may khác chỉ chịu mức 10%, thậm chí có nước có khả năng được hưởng cơ chế hạn ngạch thuế quan với mức thuế có thể về 0% đối với một số sản phẩm sử dụng đầu vào từ Hoa Kỳ.

Do đó, thách thức không đơn thuần là chênh lệch 2,5 điểm phần trăm về thuế suất. Điều đáng lo hơn là tương quan cạnh tranh về giá giữa doanh nghiệp Việt Nam với các đối thủ. Khi chi phí sản xuất và logistics tăng, phần chênh lệch thuế có thể tác động trực tiếp đến giá bán, khả năng giữ đơn hàng và thị phần xuất khẩu.

Ngoài thuế, các yêu cầu liên quan đến lao động cưỡng bức, dư thừa công suất, sở hữu trí tuệ và truy xuất nguồn gốc cũng ngày càng được chú trọng. Cuộc điều tra theo Mục 301 được tiến hành đối với 60 quốc gia, trong đó Việt Nam thuộc nhóm chịu mức thuế 12,5%.

Vì vậy, doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, dữ liệu và năng lực đáp ứng các yêu cầu của đối tác. Đồng thời, cần tăng liên kết giữa nhãn hàng và nhà sản xuất để cùng chia sẻ chi phí, rủi ro trong chuỗi cung ứng.

Tôi cho rằng, Việt Nam không nên cạnh tranh trực diện với Bangladesh, Campuchia hay những nước có lợi thế lớn về chi phí nhân công ở phân khúc giá thấp. Lợi thế của Việt Nam phải là cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm, khả năng đáp ứng đơn hàng có yêu cầu cao và thời gian giao hàng nhanh.

Đặc biệt, một yêu cầu không thể thiếu khác là xanh hóa và phát triển kinh tế tuần hoàn. Với các thị trường khó tính như: EU và Hoa Kỳ, đáp ứng ESG và giảm phát thải carbon đang trở thành điều kiện quan trọng để duy trì đơn hàng. Doanh nghiệp dệt may phải coi đây là một phần của năng lực cạnh tranh, chứ không chỉ là yêu cầu cần bổ sung.

Phóng viên: Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 48 tỷ USD trong năm 2026 được đánh giá là khả thi. Theo ông, đâu là những giải pháp then chốt để cán đích và ông có khuyến nghị gì với doanh nghiệp nhằm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu trong thời gian tới?

Ông Trương Văn Cẩm: Với kim ngạch xuất khẩu trên 27 tỷ USD đạt được sau 7 tháng, ngành dệt may Việt Nam còn cần thêm khoảng 21 tỷ USD trong 5 tháng cuối năm để hướng tới mục tiêu 48 tỷ USD. Nếu thị trường Hoa Kỳ và các thị trường lớn khác không có biến động quá lớn, cũng như tương quan cạnh tranh với các đối thủ không thay đổi bất lợi, tôi cho rằng mục tiêu này là khả thi.

Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 48 tỷ USD trong năm 2026 được đánh giá là khả thi
Theo ông Trương Văn Cẩm, mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 48 tỷ USD trong năm 2026 được đánh giá là khả thi. Ảnh: Trọng Nghĩa, có sự hỗ trợ từ AI.

Để đạt được mục tiêu đề ra, trước hết doanh nghiệp dệt may phải giữ được đơn hàng hiện có, đồng thời chủ động tìm kiếm thị trường mới và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Đây là cách giảm sự phụ thuộc và tạo dư địa ứng phó khi một thị trường có biến động chính sách.

Cùng với đó, doanh nghiệp dệt may phải tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng, năng suất, nguyên phụ liệu, chuyển đổi số và xanh hóa. Không thể chỉ nhìn mục tiêu 48 tỷ USD bằng việc tăng số lượng đơn hàng; quan trọng hơn là phải nâng giá trị trong từng đơn hàng và cải thiện hiệu quả sản xuất.

Thị trường nội địa cũng cần được quan tâm đúng mức. Hiện xuất khẩu chiếm khoảng 85-87% và thị trường nội địa chỉ chiếm khoảng 13-15%. Với quy mô hơn 100 triệu dân và mức sống ngày càng cải thiện, đây vẫn là một dư địa đáng kể. Vì vậy, ngành dệt may cần phát triển bằng “hai chân”, vừa đẩy mạnh xuất khẩu, vừa khai thác tốt thị trường trong nước để tăng tính ổn định.

Bên cạnh đó, theo tôi doanh nghiệp dệt may phải chủ động thay đổi, không chờ đến khi thị trường hoặc chính sách tạo ra áp lực mới ứng phó. Cần nâng cao năng lực quản trị, đầu tư công nghệ, kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường và lao động, đồng thời tăng liên kết với khách hàng và các doanh nghiệp trong chuỗi.

Mục tiêu xuất khẩu đạt 48 tỷ USD vì thế không nên nhìn đơn thuần là một mốc kim ngạch. Quan trọng hơn, đây là cơ hội để ngành dệt may Việt Nam củng cố nền tảng cho một giai đoạn phát triển có năng suất cao hơn, giá trị gia tăng tốt hơn và sức cạnh tranh bền vững hơn. Nếu doanh nghiệp đồng thời giữ được thị trường, nâng cao chất lượng và chủ động thích ứng với các chuẩn mực mới, mục tiêu năm 2026 sẽ tạo tiền đề tốt cho chặng đường tiếp theo.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp Việt cần vận dụng thành thạo FTA để vào thị trường Úc

Doanh nghiệp Việt cần vận dụng thành thạo FTA để vào thị trường Úc

Thị trường Úc còn nhiều dư địa cho hàng hóa của Việt Nam khi thị phần hiện mới chiếm khoảng 2,7% tổng quy mô nhập khẩu của nước này. Tuy nhiên, để mở rộng thị phần, doanh nghiệp không chỉ cần nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh, mà còn phải nắm chắc quy định pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, xu hướng tiêu dùng và hệ thống phân phối bản địa.
Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026-2030

Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026-2030

Đề án “Phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045” gắn kết với thị trường hàng hóa vật chất và đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, phòng ngừa rủi ro giá của doanh nghiệp.
TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy mô hình xuất khẩu tại chỗ từ trung tâm sản xuất công nghiệp

TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy mô hình xuất khẩu tại chỗ từ trung tâm sản xuất công nghiệp

Hội chợ Hàng Việt Nam tiêu biểu xuất khẩu năm 2026 được định vị là “trung tâm xuất khẩu tại chỗ” của TP. Hồ Chí Minh, kết nối trực tiếp hàng hóa từ nhà máy với các nhà mua hàng, tập đoàn thu mua và hệ thống phân phối quốc tế.
Lạng Sơn duy trì thông quan hàng hóa dịp Quốc khánh Trung Quốc

Lạng Sơn duy trì thông quan hàng hóa dịp Quốc khánh Trung Quốc

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn được duy trì bình thường trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh Trung Quốc từ ngày 1-7/10. Tuy nhiên, việc vận chuyển, giao nhận hàng hóa có thể chậm hơn so với ngày thường.
Dư địa để hàng Việt xuất khẩu vào thị trường CPTPP còn rất lớn

Dư địa để hàng Việt xuất khẩu vào thị trường CPTPP còn rất lớn

Năm 2025, Việt Nam mặc dù xuất khẩu 70,6 tỷ USD hàng hóa sang các nước thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), nhưng chỉ chiếm hơn 1% tổng nhu cầu nhập khẩu của cả khối (khoảng 4.250 tỷ USD). Khoảng cách này cho thấy, dư địa cho hàng Việt còn lớn, song để biến dư địa thành đơn hàng, theo các chuyên gia, doanh nghiệp không chỉ tìm thị trường thay thế mà phải mở rộng mạng lưới khách hàng, nguồn cung và chuỗi sản xuất.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản được kỳ vọng tiếp tục đà tăng trưởng trong quý IV

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản được kỳ vọng tiếp tục đà tăng trưởng trong quý IV

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu ngành nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ, không chỉ phản ánh đà tăng của các ngành hàng chủ lực mà còn tạo nền tảng để hướng tới mục tiêu cả năm, mở ra giai đoạn tăng trưởng mới dựa trên chất lượng, giá trị gia tăng, thương hiệu và chuỗi giá trị bền vững.
Xuất khẩu dệt may tăng tốc dịp cuối năm

Xuất khẩu dệt may tăng tốc dịp cuối năm

Ngành dệt may Việt Nam đang bước vào chặng nước rút của năm 2026 với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động, khả năng thích ứng, nâng sức cạnh tranh và mở rộng chuỗi cung ứng sẽ quyết định dư địa tăng trưởng xuất khẩu của ngành dệt may trong những tháng cuối năm.
Chi gần 10 tỷ USD nhập khẩu ô tô và linh kiện, phụ tùng

Chi gần 10 tỷ USD nhập khẩu ô tô và linh kiện, phụ tùng

Đến ngày 15/9/2026, Việt Nam nhập khẩu hơn 181.000 ô tô nguyên chiếc, tổng kim ngạch 4,17 tỷ USD và 5,35 tỷ USD nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô. Đáng chú ý, cả hai nhóm hàng đều tăng trưởng đáng kể so với cùng kỳ năm trước.
Điều chỉnh quy hoạch KKT cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đến năm 2045

Điều chỉnh quy hoạch KKT cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đến năm 2045

Ngày 25/9, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1855/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung khu kinh tế (KKT) cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đến năm 2045, định hướng phát triển không gian kinh tế cửa khẩu theo hướng hiện đại, đồng bộ, tăng cường kết nối giao thông, thương mại biên giới và logistics.
Miễn một số điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo từ ngày 1/10/2026

Miễn một số điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo từ ngày 1/10/2026

Từ ngày 1/10/2026, thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng được miễn một số điều kiện kinh doanh vốn áp dụng với gạo thông thường. Cùng với việc giảm rào cản gia nhập thị trường, quy định mới đặt trọng tâm vào hậu kiểm, theo dõi nhập khẩu và trách nhiệm bảo đảm nguồn cung trong nước.
Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc để hàng Việt đạt chuẩn yêu cầu xuất khẩu

Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc để hàng Việt đạt chuẩn yêu cầu xuất khẩu

Các chuyên gia tập trung phân tích những yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc và cách chuyển hóa dữ liệu kỹ thuật thành bằng chứng phục vụ báo cáo môi trường, xã hội và quản trị.
Doanh nghiệp lo tăng chi phí vì C/O bản giấy chậm cấp

Doanh nghiệp lo tăng chi phí vì C/O bản giấy chậm cấp

Việc tổ chức lại các phòng quản lý Xuất nhập khẩu nhằm tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, vướng mắc về con dấu trong giai đoạn chuyển tiếp đang khiến quy trình cấp một số mẫu C/O bản giấy phát sinh thêm khâu luân chuyển, làm gia tăng áp lực về thời gian và chi phí đối với doanh nghiệp xuất khẩu.
Tháo gỡ nút thắt để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản cuối năm

Tháo gỡ nút thắt để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản cuối năm

9 tháng năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%. Để duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp kiến nghị tháo gỡ các điểm nghẽn về vùng nguyên liệu, tín dụng, truy xuất nguồn gốc và phòng vệ thương mại...
Halal mở ra dư địa lớn cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam

Halal mở ra dư địa lớn cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam

Thị trường Halal mở ra dư địa lớn cho xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, nhưng cơ hội chỉ trở thành tăng trưởng thực chất khi doanh nghiệp đáp ứng đồng thời tiêu chuẩn, quy định từng thị trường và cơ chế kết nối hiệu quả giữa cơ quan quản lý, Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, địa phương với doanh nghiệp để mở rộng thị trường xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu sang Canada tăng tốc nhờ nhóm hàng điện tử và máy móc

Xuất khẩu sang Canada tăng tốc nhờ nhóm hàng điện tử và máy móc

Xuất khẩu sang Canada tiếp tục tăng tốc trong 8 tháng năm 2026, khi nhóm hàng điện tử, máy móc và công nghiệp chế biến trở thành động lực mở rộng thị phần, tạo dư địa nâng giá trị xuất khẩu và củng cố vị thế hàng hóa của Việt Nam tại thị trường Canada.