![]() |
| Ngành dệt may cần nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu. Ảnh: Tư liệu. |
Phóng viên: Thưa ông, kim ngạch xuất khẩu dệt may 9 tháng năm 2026 đạt 35,72 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ. Kết quả này phản ánh điều gì về sức khỏe của ngành dệt may khi thị trường còn biến động và tăng trưởng giữa các nhóm hàng chưa đồng đều?
Ông Trương Văn Cẩm: Tôi cho rằng, để duy trì mức tăng trưởng dương khi nhu cầu thế giới phục hồi không đồng đều là nỗ lực đáng ghi nhận của ngành dệt may. Tuy nhiên, mức tăng 3,3% còn khá khiêm tốn, cho thấy sức ép cạnh tranh vẫn lớn; khách hàng ngày càng cân nhắc kỹ về giá, chất lượng và thời hạn giao hàng. Bên cạnh đó, tăng trưởng giữa các nhóm hàng cũng chưa đồng đều.
Trong 9 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đạt 28,24 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ; xơ sợi đạt 3,61 tỷ USD, tăng 13,1%; phụ liệu dệt may đạt 1,21 tỷ USD, tăng 11,2%; vải không dệt đạt 610 triệu USD, tăng 7,8%. Ngược lại, xuất khẩu vải đạt 2,06 tỷ USD, giảm 2,5% so với cùng kỳ. Sự phân hóa cho thấy, nhóm may mặc chủ lực tăng thấp, còn xuất khẩu vải giảm. Ngành dệt may cần tiếp tục củng cố năng lực dệt, nhuộm và hoàn tất để nâng giá trị tạo ra trong nước.
Nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may 9 tháng năm 2026 đạt 19,9 tỷ USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vải nguyên liệu chiếm 11,6 tỷ USD. Quy mô này cho thấy, doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Phát triển năng lực trong nước có thể giúp chủ động hơn về tiến độ, chất lượng và xuất xứ, dù đòi hỏi vốn, công nghệ và thời gian.
Vì vậy, đánh giá sức khỏe ngành dệt may không nên chỉ nhìn vào kim ngạch xuất khẩu; hiệu quả từng đơn hàng cũng rất quan trọng. Nếu nhận đơn giá thấp để duy trì công suất mà không tính đủ chi phí nguyên liệu, lao động, năng lượng, vận chuyển và tài chính, doanh thu có thể tăng nhưng lợi nhuận lại giảm. Doanh nghiệp cần ưu tiên những đơn hàng có điều kiện thương mại phù hợp, khả năng thực hiện chắc chắn và hiệu quả tốt.
Phóng viên: Bước vào quý IV, một số doanh nghiệp lớn đã cơ bản bảo đảm đơn hàng đến cuối năm, song thị trường vẫn phân hóa. VITAS xác định mục tiêu phấn đấu xuất khẩu cả năm đạt khoảng 48 tỷ USD, theo ông, điều gì quyết định khả năng hoàn thành mục tiêu này?
Ông Trương Văn Cẩm: Thực tế tại một số doanh nghiệp lớn cho thấy, tín hiệu đơn hàng cuối năm tương đối tích cực. Tại May 10, ghi nhận đề nghị tăng sản lượng từ một số khách hàng EU và khách hàng truyền thống; trong khi Dệt may miền Nam, May Nhà Bè và Dệt may Huế đã cơ bản bảo đảm kế hoạch sản xuất đến hết năm 2026. Tuy nhiên, diễn biến này chưa đủ để khẳng định thị trường đã phục hồi đồng đều, bởi tình hình đơn hàng và hiệu quả sản xuất vẫn khác nhau giữa các doanh nghiệp. Có đơn hàng giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc bố trí lao động, nguyên liệu, nhưng lợi nhuận còn tùy thuộc giá bán và chi phí thực hiện.
VITAS xác định, mốc kim ngạch xuất khẩu 48 tỷ USD là mục tiêu phấn đấu năm 2026. Sau 9 tháng, kim ngạch đạt 35,72 tỷ USD, bình quân xuất khẩu khoảng 3,97 tỷ USD/tháng. Để đạt mục tiêu, quý IV cần thêm 12,28 tỷ USD, tương đương khoảng 4,1 tỷ USD/tháng, cao hơn khoảng 120 triệu USD/tháng so với mức bình quân 9 tháng. Áp lực tăng tốc không nhỏ; khả năng thực hiện còn phụ thuộc vào tiến độ giao hàng, cơ cấu sản phẩm, nhu cầu khách hàng và diễn biến thị trường thương mại thế giới.
Tôi cho rằng, thách thức không chỉ là đủ đơn hàng mà còn phải giữ hiệu quả. Giá bông, xơ, vật tư, logistics và vốn biến động có thể bào mòn lợi nhuận. Trong khi, khách hàng yêu cầu linh hoạt hơn về sản lượng, mẫu mã, chất lượng, truy xuất và giao hàng; các tiêu chuẩn về xuất xứ, lao động, môi trường cũng ngày càng khắt khe. Đơn hàng lớn chưa chắc hiệu quả nếu giá gia công thấp hoặc doanh nghiệp giao hàng chậm.
Doanh nghiệp cần đánh giá đơn hàng trên toàn bộ chi phí và khả năng thực hiện, từ nguyên liệu, năng lực sản xuất đến logistics và thanh toán. Đa dạng hóa thị trường phải gắn với năng lực thực tế và tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA). Ưu đãi thuế quan chỉ phát huy khi hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ và có hồ sơ đầy đủ. Uy tín giao hàng, chất lượng và kỷ luật chi phí quan trọng không kém việc tìm kiếm khách hàng mới.
Phóng viên: Để vừa tăng tốc xuất khẩu trong chặng cuối năm, vừa tạo nền tảng tăng trưởng bền vững, theo ông doanh nghiệp cần đổi mới điều gì và cơ quan quản lý, VITAS nên đồng hành ra sao?
Để nâng sức cạnh tranh, doanh nghiệp dệt may cần chuyển từ lợi thế giá và số lượng đơn hàng sang năng suất, chất lượng và hiệu quả. Chuyển đổi số, tự động hóa và đổi mới sáng tạo nên bắt đầu từ những khâu còn lãng phí nguyên liệu, chậm tiến độ hoặc phát sinh sai lỗi. Công nghệ cần gắn với đổi mới quản trị, tổ chức sản xuất và nâng cao kỹ năng người lao động, thay vì đầu tư dàn trải. Hiệu quả phải được đo bằng khả năng giảm chi phí, rút ngắn thời gian sản xuất, bảo đảm chất lượng và giao hàng đúng hạn. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, bảo vệ lợi nhuận và gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng. |
Ông Trương Văn Cẩm: Theo tôi, doanh nghiệp cần thay đổi phương thức cạnh tranh: không chỉ dựa vào giá thấp hay số lượng đơn hàng, mà phải nâng năng suất, chất lượng và độ tin cậy. Khi báo giá cần tính đủ chi phí, rủi ro thanh toán; trong sản xuất phải giảm hàng lỗi, tiết kiệm vật tư, bố trí chuyền may hợp lý và điều chỉnh kế hoạch theo đơn hàng thực tế. Quản trị tốt từng đơn hàng giúp bảo vệ lợi nhuận, đồng thời góp phần duy trì việc làm ổn định.
Chuyển đổi số và tự động hóa nên bắt đầu từ những khâu có thể đo lường hiệu quả như lập kế hoạch, dự báo nguyên liệu, theo dõi tiến độ, quản trị kho và kiểm soát chất lượng. AI, robot hay thiết bị tiết kiệm năng lượng không phải mục tiêu tự thân; đầu tư cần phù hợp với quy mô doanh nghiệp, kỹ năng người lao động và khả năng hoàn vốn. Chuyển đổi xanh cũng phải thực chất: tiết kiệm điện, nước, hóa chất, giảm phế liệu, sử dụng vật liệu tái chế phù hợp và minh bạch nguồn gốc. Cách làm này giúp doanh nghiệp giảm lãng phí, đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Về dài hạn, cần củng cố nguồn cung trong nước, nhất là ở các khâu như: dệt, nhuộm, hoàn tất vải và sản xuất phụ liệu. Mức nhập khẩu nguyên phụ liệu đạt 19,9 tỷ USD trong 9 tháng, trong đó vải nguyên liệu chiếm 11,6 tỷ USD cho thấy, dư địa phát triển công nghiệp hỗ trợ còn lớn. Đầu tư cần gắn với công nghệ phù hợp, tiêu chuẩn môi trường, hạ tầng xử lý nước thải và nhân lực kỹ thuật. Nguồn cung nội địa mạnh hơn sẽ giúp doanh nghiệp chủ động tiến độ, chất lượng, xuất xứ và tăng giá trị tạo ra tại Việt Nam.
Cơ quan quản lý cần duy trì chính sách ổn định, dễ dự báo và thuận lợi khi thực thi. Thủ tục thuế, hải quan nên tiếp tục được đơn giản hóa trên nền tảng dữ liệu và quản lý rủi ro; hồ sơ của doanh nghiệp tuân thủ tốt cần được xử lý kịp thời, nhất quán, nhất là thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng. Kết nối dữ liệu có thể hạn chế khai báo lặp lại, giảm thời gian và chi phí tuân thủ. Chính sách cũng cần tháo gỡ vướng mắc theo chuỗi, tạo điều kiện để nguyên liệu trong nước tham gia sâu hơn vào sản xuất hàng xuất khẩu.
VITAS sẽ tiếp tục cập nhật thông tin thị trường, tổng hợp vướng mắc, kết nối doanh nghiệp với nhà cung cấp và đối tác, đồng thời kiến nghị chính sách sát thực tế. Tuy nhiên, hiệp hội không thể thay doanh nghiệp quyết định đầu tư hay lựa chọn đơn hàng; nội lực của từng doanh nghiệp vẫn mang tính quyết định. Ngành dệt may cũng cần phát triển nhân lực kỹ thuật, năng lực thiết kế, sản phẩm, thương hiệu và chuỗi cung ứng để tham gia sâu hơn vào những khâu có giá trị gia tăng cao.
Tôi cho rằng, mục tiêu xuất khẩu chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng quá trình nâng cấp toàn ngành dệt may, chứ không chỉ là tăng kim ngạch. Trong chặng cuối năm, doanh nghiệp cần hoàn thành đơn hàng nhưng không đánh đổi chất lượng, lợi nhuận, quyền lợi người lao động hay cam kết môi trường để chạy theo doanh thu. Thành công phải được đo bằng khả năng giữ khách hàng, làm chủ nguồn cung, tăng năng suất và tạo thêm giá trị tại Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng để ngành dệt may hoàn thành mục tiêu xuất khẩu năm 2026 và chuẩn bị bước vào năm 2027 với một tâm thế vững vàng hơn.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!