![]() |
| Hoạt động xuất nhập khẩu qua khu vực cảng Hải Phòng. Ảnh: Công ty CP cảng Hải Phòng. |
Điện tử, máy móc dẫn dắt tăng trưởng
Theo số liệu sơ bộ mới nhất của Cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 10 (1-15/10), kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 27,43 tỷ USD, tăng 46,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/10, kim ngạch đạt 481,37 tỷ USD, tăng 130,6 tỷ USD, tương ứng tăng 37,2%.
Đáng chú ý, kim ngạch nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 356,49 tỷ USD, tăng 42,8%, chiếm 74,1% tổng kim ngạch cả nước.
Khu vực doanh nghiệp trong nước đạt khoảng 124,88 tỷ USD, tăng 23,6%.
Như vậy, cả hai khu vực đều mở rộng nhập khẩu, nhưng tốc độ và quy mô của khối doanh nghiệp FDI lớn và tăng cao hơn cho thấy vai trò dẫn dắt của khu vực này trong nhu cầu đầu vào.
Tâm điểm nhập khẩu là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, với kim ngạch đạt 201,12 tỷ USD, tăng 72,9%. Riêng nhóm hàng này tăng thêm 84,81 tỷ USD, đóng góp gần 65% mức tăng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Quy mô vượt 200 tỷ USD cho thấy sức nặng ngày càng lớn của chuỗi sản xuất điện tử trong cơ cấu nhập khẩu. Nhu cầu linh kiện và sản phẩm điện tử tăng mạnh có thể tạo thêm nguồn lực cho sản xuất, xuất khẩu trong những tháng tới.
Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả, cần đặt mức tăng nhập khẩu trong tương quan với kim ngạch xuất khẩu và giá trị được tạo ra tại Việt Nam.
Nhóm hàng lớn thứ hai là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng với 56,84 tỷ USD, tăng 21,4%, tương ứng tăng thêm hơn 10 tỷ USD. Riêng hai nhóm hàng lớn đạt tổng kim ngạch 257,95 tỷ USD, chiếm 53,6% kim ngạch nhập khẩu cả nước và đóng góp 72,6% phần kim ngạch tăng thêm.
Bên cạnh hai đầu tàu, nhiều nhóm nguyên liệu duy trì kim ngạch lớn. Vải các loại đạt 12,23 tỷ USD, tăng 2,9%; kim loại thường khác đạt 11,92 tỷ USD, tăng 37,1%; chất dẻo nguyên liệu đạt 10,91 tỷ USD, tăng 10,3%. Các nhóm này tạo nguồn cung cho những ngành sản xuất có mạng lưới doanh nghiệp rộng và nhu cầu nguyên liệu thường xuyên.
Ngoài ra, các nhóm hàng có kim ngạch lớn, tăng trưởng cao có thể kể đến như: Sản phẩm từ chất dẻo đạt 9,66 tỷ USD, tăng 16%; sắt thép đạt 9,16 tỷ USD, tăng 8,7%; hóa chất đạt 8,09 tỷ USD, tăng 29,3%; sản phẩm từ sắt thép đạt 7,89 tỷ USD, tăng 25,5%...
Tuy nhiên, có một số nhóm hàng lớn nhưng tăng thấp, thậm chí giảm như: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 56,84 tỷ USD, giảm nhẹ 0,4%; vải và nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày đạt hơn 18,1 tỷ USD, chỉ tăng khoảng 3%...
Cơ cấu và mức độ tăng trưởng trên là cơ sở để nhận diện xu hướng nhập khẩu của Việt Nam nghiêng mạnh về đầu vào sản xuất. Trong báo cáo kinh tế - xã hội mới nhất của Cục Thống kê cũng nhận định, trong 9 tháng năm 2026, tư liệu sản xuất chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu.
![]() |
| Ô tô nhập khẩu là một trong những nhóm hàng có tăng trưởng cao. Ảnh: Lê Thu. |
Nhận diện yếu tố giá, hướng tới hiệu quả nhập khẩu
Xét tốc độ tăng trưởng, nhiều nhóm hàng nhập khẩu có mức tăng lên đến hai, thậm chí ba con số. Điển hình là đá quý, kim loại quý và sản phẩm khi đạt 2,16 tỷ USD, tăng tới 154,9%.
Nhóm năng lượng cũng tăng mạnh. Trong đó, xăng dầu các loại đạt 9,69 tỷ USD, tăng 78,3%; khí đốt hóa lỏng đạt 2,39 tỷ USD, tăng 47,5%; than đạt 7,34 tỷ USD, tăng 36,2%; dầu thô đạt 7,36 tỷ USD, tăng 19,5%.
Đáng chú ý, lượng xăng dầu nhập khẩu chỉ tăng khoảng 9,6%, thấp hơn nhiều mức tăng trị giá; còn mặt hàng than tăng 11,2% về lượng, trong khi lượng dầu thô giảm 10,9%.
Các yếu tố chênh lệch nêu trên cho thấy đơn giá nhập khẩu bình quân và cơ cấu hàng nhập tác động đáng kể tới kim ngạch. Vì vậy, tăng trị giá năng lượng chưa đồng nghĩa nhu cầu sử dụng tăng tương ứng.
Ở các nhóm khác, quặng và khoáng sản đạt 3,86 tỷ USD, tăng 60,2%; đậu tương đạt 1,49 tỷ USD, tăng 55,4%; lúa mì đạt 1,62 tỷ USD, tăng 34,3%. Lượng đậu tương tăng khoảng 45,7%, lúa mì tăng 34,8%, cho thấy tăng trưởng của hai mặt hàng này gắn khá rõ với mở rộng lượng nhập.
Trong lĩnh vực ô tô, nhóm hàng linh kiện, phụ tùng đạt 5,97 tỷ USD, tăng 36,9%; ô tô nguyên chiếc đạt 4,69 tỷ USD, tăng 29,2%, với 203.600 chiếc. Điều này phản ánh nhu cầu ở cả khâu sản xuất, lắp ráp và thị trường xe nhập khẩu.
Với kết quả đạt được trong hơn 9 tháng qua, triển vọng nhập khẩu cán mốc kỷ lục 600 tỷ USD trong năm 2026 là có cơ sở. Bởi, từ mức 481,37 tỷ USD đến ngày 15/10, nhập khẩu cần tăng thêm 118,63 tỷ USD trong phần còn lại của năm để đạt ngưỡng 600 tỷ USD, tương đương khoảng 47,45 tỷ USD mỗi tháng, con số này thấp hơn mức bình quân 50 tỷ USD/tháng kể từ đầu năm.