![]() |
| Dư địa xuất khẩu của nhóm ngành cơ khí hiện nay còn rất lớn. Ảnh: Duy Hưng. |
Theo số liệu của Cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện - đại diện chủ lực cho ngành cơ khí và chế tạo trong 9 tháng năm 2026 đạt 123,6 tỷ USD, tăng 59,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Ngành cơ khí chế tạo đã từng bước làm chủ và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tham gia sản xuất sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tạo đòn bẩy để các ngành công nghiệp và kinh tế khác cùng phát triển.
Trước nhu cầu phát triển công nghiệp thế giới, dư địa xuất khẩu của nhóm ngành cơ khí hiện nay còn rất lớn, đặt ra bài toán phát triển năng lực sản xuất, vừa mở rộng xuất khẩu, vừa nâng khả năng cung ứng trong nước ở những phân khúc có thể cạnh tranh.
Theo Thượng tá Phạm Đồng Khởi, Tổng công ty Sản xuất thiết bị Viettel (VMC), một hạn chế của ngành cơ khí là chưa hình thành chuỗi cung ứng đủ năng lực cung cấp nhôm, thép và hợp kim chất lượng cao phục vụ cơ khí chính xác. Đầu tư thiết bị còn dàn trải, trùng lặp; doanh nghiệp thiếu thông tin về công nghệ, sản phẩm và năng lực của nhau để phối hợp thực hiện đơn hàng.
Vì vậy, đầu tư nâng cao năng lực cung ứng cho ngành hàng này cần bắt đầu từ nhóm sản phẩm và yêu cầu khách hàng, trong đó ưu tiên các nhóm hàng cơ khí chính xác như khuôn chính xác, trục, bánh răng, đồ gá, cụm chi tiết công nghiệp; đồng thời phát triển có chọn lọc các chi tiết phục vụ thiết bị bán dẫn, tự động hóa, hàng không và năng lượng.
Muốn tiếp cận những phân khúc này, năng lực gia công phải đi cùng kiểm soát vật liệu, xử lý nhiệt, đo kiểm và hồ sơ truy xuất. Với khách hàng quốc tế, một sản phẩm đạt yêu cầu cần được bảo đảm bằng quy trình sản xuất ổn định và khả năng chứng minh chất lượng theo lô.
Ông Khởi kiến nghị hình thành các nhóm hợp tác xuất khẩu có doanh nghiệp đầu mối, sử dụng chung chuyên gia và phòng thử nghiệm; xây dựng cơ sở dữ liệu năng lực của hội viên. Hoạt động phát triển thị trường cũng cần tổ chức theo nhóm doanh nghiệp, có hồ sơ năng lực chung và đầu mối chịu trách nhiệm, giúp kết nối các công đoạn để đáp ứng đơn hàng có yêu cầu cao hơn.
Ở góc độ phát triển ngành, theo ông Đinh Viết Hải, Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME), chuyển dịch từ gia công sang phát triển sản phẩm, tăng năng lực thiết kế, mô phỏng và chế tạo thử nghiệm. Các dự án hạ tầng, năng lượng, giao thông có thể tạo thị trường dẫn dắt, giúp doanh nghiệp nâng cấp năng lực và từng bước thay thế sản phẩm nhập khẩu ở phân khúc phù hợp.
Định hướng này được thể hiện trong Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, phê duyệt tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026. Chương trình gắn phát triển năng lực cung ứng trong nước với mở rộng xuất khẩu, đặt mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa ngành cơ khí chế tạo đạt 50% vào năm 2035.
![]() |
| Truy vết carbon cần gắn với từng lô nguyên liệu và lô hàng xuất khẩu. Ảnh: Duy Hưng. |
Cùng với yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường đang tác động đến khả năng tiếp cận thị trường của nhóm hàng cơ khí. Theo Ủy ban châu Âu (EC), Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) áp dụng giai đoạn chính thức từ ngày 1/1/2026, đối với những hàng hóa thuộc phạm vi quy định, trong đó có sắt thép và nhôm.
Do đó, nghĩa vụ của nhà nhập khẩu cần gắn với lượng phát thải hàm chứa trong hàng hóa. Từ đó đòi hỏi doanh nghiệp cơ khí xác định cụ thể sản phẩm xuất sang EU có thuộc phạm vi CBAM hay không, thay vì đồng nhất toàn bộ hàng cơ khí với hàng thuộc diện áp dụng, đồng thời không thể chỉ dựa vào tên gọi sản phẩm để kết luận nghĩa vụ.
Liên quan đến vấn đề truy vết carbon, bà Nguyễn Thị Giang, chuyên gia kiểm kê khí nhà kính và truy vết carbon của Công ty cổ phần Giải pháp Khí nhà kính Lead On GHG nhận định, phần lớn phát thải đi vào nhà máy từ nguyên liệu đầu vào và gia tăng qua quá trình sản xuất, trực tiếp phát thải qua quá trình lò nung, xử lý nhiệt; hàn, cắt, gia công; hệ thống lạnh; vận tải nội bộ, máy phát.
Doanh nghiệp cần kết nối dữ liệu nguyên liệu, công đoạn sản xuất và sản lượng để có được báo cáo tổng kết với đầy đủ thông tin, làm cơ sở tính toán, giải trình với đối tác.
Bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị Giang lưu ý, việc truy vết carbon phải gắn với từng lô nguyên liệu và lô hàng xuất khẩu. Điển hình với thép nguyên liệu, doanh nghiệp cần làm rõ công nghệ luyện, cường độ phát thải và tình trạng thẩm định số liệu của nhà cung cấp. Đây cũng là mối liên hệ trực tiếp giữa đầu vào và sức cạnh tranh xuất khẩu: lựa chọn vật liệu cần tính đến cả chất lượng lẫn khả năng cung cấp dữ liệu.
Dù nhà nhập khẩu EU thực hiện nghĩa vụ CBAM, nhà sản xuất Việt Nam vẫn cần giữ vai trò cung cấp thông tin phát thải, nhằm tránh việc thiếu dữ liệu thực tế có thể dẫn tới sử dụng giá trị mặc định, làm gia tăng sức ép chi phí và thương lượng giá, thậm chí ảnh hưởng đến lựa chọn nhà cung cấp.
Giải pháp đề xuất là lập danh mục mã hàng xuất sang EU, làm việc với nhà cung cấp thép về dữ liệu phát thải và chọn một sản phẩm để tính thử dấu chân carbon. Đây là các bước cụ thể để nhận diện khoảng trống thông tin trước khi xây dựng hệ thống quản trị rộng hơn.
Trước những yêu cầu ngày càng cao về truy vết nguồn gốc, đáp ứng các quy tắc xuất xứ của nước nhập khẩu, xuất khẩu cơ khí cần được củng cố từ toàn bộ chuỗi sản xuất. Việc kết nối năng lực vật liệu, công nghệ và dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp có thêm cơ sở nâng giá trị sản phẩm, tăng khả năng cung ứng thực tế, tăng giá trị tạo ra trong nước, duy trì quan hệ với khách hàng và mở rộng thị trường quốc tế.