![]() |
| Hồ sơ truy xuất nguồn gốc thực phẩm phải thể hiện được mối liên hệ giữa nguyên liệu đầu vào, lô sản xuất và quá trình phân phối. Ảnh: Thu Hiền. |
Thông tư số 63/2026/TT-BCT quy định về cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, có hiệu lực từ ngày 15/11/2026, thay thế Thông tư số 11/2026/TT-BCT. Bên cạnh việc tạo lập, kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu, Thông tư dành một chương quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm.
Trọng tâm của quy định mới là khả năng nhận diện sản phẩm qua các công đoạn của chuỗi cung ứng. Hoạt động truy xuất thực hiện theo nguyên tắc “một bước trước - một bước sau”, yêu cầu cơ sở lưu giữ thông tin để xác định công đoạn trước và công đoạn kế tiếp trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Theo đó, hồ sơ phải thể hiện được mối liên hệ giữa nguyên liệu đầu vào, lô sản xuất và quá trình phân phối. Cơ sở sản xuất phải lưu thông tin về tên, chủng loại, số lượng, khối lượng, mã lô hoặc mẻ sản phẩm đã sản xuất, đã bán; địa điểm, thời gian diễn ra các bước có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn sản phẩm.
Thông tin về nhà cung cấp nguyên liệu, khách hàng, đại lý, đơn vị vận chuyển, bảo quản, lưu kho cùng hợp đồng, hóa đơn, chứng từ liên quan cũng thuộc nội dung phải lưu trữ theo quy định. Với cơ sở kinh doanh, trách nhiệm còn bao gồm tiếp nhận thông tin từ nhà sản xuất và lưu hồ sơ về quá trình kinh doanh.
Đáng chú ý, quy định tại Điều 10 yêu cầu cơ sở bảo đảm có thể cung cấp hồ sơ, tài liệu truy xuất trong vòng 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Đây là căn cứ để doanh nghiệp rà soát cách tổ chức chứng từ, phân công đầu mối và khả năng trích xuất thông tin theo từng lô hàng.
Hồ sơ phải được lưu tối thiểu 12 tháng kể từ ngày sản phẩm hết hạn sử dụng, với thực phẩm không yêu cầu bắt buộc ghi hạn sử dụng, thời hạn tối thiểu là 60 tháng kể từ ngày sản xuất; đồng thời dữ liệu phải được bảo đảm an toàn, bảo mật và không bị thay đổi, sai lệch.
Khi tự giám sát, phát hiện thực phẩm không bảo đảm an toàn hoặc nhận yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, cơ sở phải tiến hành truy xuất ngay. Nhà sản xuất phải rà soát hồ sơ, liên hệ nhà cung cấp nguyên liệu, bao bì và thông báo khẩn cấp tới các nhà phân phối, đại lý để xác định lượng đã bán, tồn kho, làm rõ nguyên nhân và báo cáo kết quả xử lý.
![]() |
| Hồ sơ truy xuất nguồn gốc thực phẩm cần có tên, chủng loại, khối lượng, số lượng sản phẩm và số tờ khai hải quan nhập khẩu của lô hàng. Ảnh: Thu Hiền. |
Đối với thực phẩm nhập khẩu, Thông tư số 63/2026/TT-BCT quy định rõ các thông tin cơ sở kinh doanh phải thường xuyên thiết lập, lưu trữ. Ngoài thông tin về sản phẩm, tiêu chuẩn áp dụng và hồ sơ công bố theo quy định, cơ sở phải lưu tên, địa chỉ, thông tin liên hệ của nhà sản xuất hoặc xuất khẩu; thông tin và mã số doanh nghiệp của nhà nhập khẩu.
Hồ sơ còn phải có tên, chủng loại, khối lượng, số lượng sản phẩm và số tờ khai hải quan nhập khẩu của lô hàng; đồng thời, Chứng nhận xuất xứ hàng hóa hoặc kết quả kiểm nghiệm tại nước xuất xứ được lưu trong trường hợp pháp luật quy định.
Việc lưu số tờ khai cùng thông tin lô hàng tạo cơ sở đối chiếu sản phẩm lưu thông với hồ sơ nhập khẩu. Trong mẫu báo cáo truy xuất thực phẩm không bảo đảm an toàn, Thông tư cũng yêu cầu kê khai số tờ khai đối với sản phẩm nhập khẩu, lượng hàng đã nhập, đã tiêu thụ, tồn kho và địa điểm tập kết.
Với thực phẩm xuất khẩu, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện truy xuất theo quy định của nước nhập khẩu; còn đối với sản phẩm vừa xuất khẩu vừa lưu thông trong nước, cần tuân thủ quy định khi tiêu thụ tại Việt Nam. Từ đó đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần rà soát yêu cầu của từng thị trường khi tổ chức hồ sơ.
Liên quan đến sự chuẩn bị của doanh nghiệp, bà Trần Minh Thu, Phòng Hội nhập và WTO thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhấn mạnh việc theo dõi, lưu trữ hồ sơ, chứng từ để chứng minh; đồng thời tham gia đào tạo nhằm cập nhật rủi ro chính sách và các tiêu chuẩn liên quan.
Một điểm cần phân biệt là nghĩa vụ lưu hồ sơ với việc kết nối cơ sở dữ liệu. Thông tư khuyến khích cơ sở sản xuất, kinh doanh kết nối, cung cấp thông tin lên cơ sở dữ liệu thực phẩm của Bộ Công Thương. Riêng cơ sở có sản phẩm thuộc danh mục hàng hóa rủi ro cao phải thực hiện truy xuất và cung cấp thông tin lên hệ thống cơ sở dữ liệu truy xuất hàng hóa rủi ro cao của Bộ.
Song song với trách nhiệm của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước phải khai thác dữ liệu có sẵn nếu đáp ứng yêu cầu truy xuất, không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại, trừ trường hợp cần kiểm tra, xác minh hoặc pháp luật quy định khác.
Từ các yêu cầu này, việc chuẩn bị trước ngày 15/11 cần bắt đầu bằng rà soát hồ sơ từng lô hàng và khả năng phối hợp với đối tác. Thông tin được lưu đầy đủ, có thể kiểm chứng và trích xuất kịp thời, truy xuất sẽ hỗ trợ xử lý sự cố, bảo vệ người tiêu dùng, đồng thời củng cố khả năng đáp ứng thị trường của doanh nghiệp.