![]() |
| Hàng hóa có xuất xứ Việt Nam thuộc nhóm xuất xứ thuần túy hoặc xuất xứ không thuần túy. Ảnh: Minh Hà. |
Việc xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sử dụng nguyên liệu nhập khẩu cần căn cứ vào tiêu chí cụ thể, đồng thời phân biệt rõ hoạt động sản xuất với các công đoạn gia công, chế biến đơn giản. Những vấn đề này được làm rõ tại Nghị định số 384/2026/NĐ-CP của Chính phủ, quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước.
Theo Nghị định, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam thuộc một trong hai nhóm: xuất xứ thuần túy hoặc xuất xứ không thuần túy. Nhóm thuần túy bao gồm cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam; động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam; khoáng sản được khai thác từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam cùng những trường hợp được quy định cụ thể.
Quy định cũng nêu rõ hàng hóa xuất xứ không thuần túy Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp: chuyển đổi mã số hàng hóa; có hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%. Đáng chú ý, trị giá của vật liệu đóng gói và bao bì chứa đựng hàng hóa là một phần cấu thành nên hàng hóa và được tính vào hàm lượng VVC.
Điểm cần chú ý là các công đoạn gia công, chế biến đơn giản không được dùng để xác định xuất xứ Việt Nam theo quy định của nghị định. Danh mục này bao gồm thay đổi bao bì; đóng chai, lọ, bao, hộp; dán hoặc in nhãn hiệu, nhãn, logo; phân loại, phối trộn đơn giản không làm thay đổi bản chất hàng hóa; lắp ráp đơn giản các bộ phận thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Vì vậy, việc có một công đoạn thực hiện trong nước chưa đủ để kết luận hàng hóa có xuất xứ Việt Nam. Doanh nghiệp phải đối chiếu cả tiêu chí xuất xứ và quy định về công đoạn đơn giản, thay vì chỉ căn cứ vào nơi đóng gói hoặc gắn nhãn sản phẩm.
Riêng hàng hóa thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số, nghị định cho phép tính vào VVC các công đoạn tạo giá trị thực hiện tại Việt Nam, gồm nghiên cứu, phát triển; thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa; thử nghiệm kỹ thuật và kiểm thử phần mềm gắn với quy trình tạo ra sản phẩm. Khoản này cũng có quy định riêng về việc không áp dụng các nội dung được dẫn chiếu tại khoản 2 Điều 7 và Điều 8.
Ý nghĩa của việc xây dựng tiêu chí xuất xứ đã được đặt ra ngay từ quá trình chuẩn bị chính sách, việc triển khai hiệu quả khung tiêu chí sẽ góp phần ngăn gian lận xuất xứ và tăng niềm tin của người tiêu dùng đối với hàng Việt.
![]() |
| Hàng hóa có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam đúng quy định pháp luật trước ngày 1/1/2027 được tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hết hạn sử dụng. Ảnh: Minh Hà. |
Bên cạnh tiêu chí kỹ thuật, Nghị định 384/2026/NĐ-CP đặt trách nhiệm trực tiếp lên thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam. Trách nhiệm này áp dụng khi thông tin xuất xứ xuất hiện trên nhãn hàng hóa hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa thông tin liên quan đến hàng hóa.
Chủ thể công bố phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin; đồng thời lưu trữ hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ. Hồ sơ bao gồm hóa đơn đầu vào, bảng kê nguyên vật liệu, mô tả quy trình sản xuất và tài liệu liên quan để phục vụ thanh tra, kiểm tra. Khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, doanh nghiệp có trách nhiệm chứng minh hàng hóa đáp ứng quy định.
Yêu cầu này cho thấy việc chuẩn bị hồ sơ cần gắn với quá trình sản xuất, với doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu từ nhiều nguồn, căn cứ xác định xuất xứ phải được theo dõi từ đầu vào, quá trình chế biến đến thành phẩm. Nếu lựa chọn tiêu chí VVC, số liệu tính toán cần được hỗ trợ bằng chứng từ tương ứng, bảo đảm có thể giải trình khi kiểm tra.
Đây cũng là trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc minh bạch nguồn gốc và công khai dữ liệu sản xuất, góp phần nâng tầm hàng Việt.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ phạm vi của quy định, hàng hóa lưu thông trong nước sau đó được xuất khẩu vẫn phải tuân thủ pháp luật về xuất xứ hàng xuất khẩu và quy định của nước nhập khẩu.
Hàng hóa có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam đúng quy định pháp luật trước thời điểm Nghị định có hiệu lực (ngày 1/1/2027) được tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hết hạn sử dụng.
Khoảng thời gian chuẩn bị là cơ hội để doanh nghiệp rà soát nguyên liệu, quy trình và hồ sơ chứng minh, khi đó doanh nghiệp sản xuất thực chất có thêm cơ sở bảo vệ uy tín, còn người tiêu dùng có thêm căn cứ để tin tưởng lựa chọn hàng Việt.