![]() |
| Hàng hóa nhập khẩu phần lớn phục vụ nhu cầu nguyên liệu, linh kiện, máy móc và thiết bị đầu vào cho sản xuất. Ảnh: Thu Hiền. |
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính chung 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt giá trị hơn 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu đạt 434,3 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%.
Cán cân thương mại hàng hóa đã ghi nhận chuyển biến đáng chú ý trong tháng 9/2026 khi trở lại xuất siêu 1,27 tỷ USD sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu kể từ tháng 12/2025 đến hết tháng 8/2026.
Đây là tín hiệu tích cực nhưng chưa đủ để khẳng định xu hướng nhập siêu đã chấm dứt, bởi sau 9 tháng năm 2026, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm 2025 xuất siêu 16,87 tỷ USD. Để đánh giá đầy đủ hơn, cần phân tích cơ cấu những nhóm hàng có kim ngạch và tỷ trọng lớn thay vì chỉ dựa vào chênh lệch giữa tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu.
Số liệu của Cục Thống kê tiếp tục cho thấy đặc điểm này. Trong 453,72 tỷ USD hàng nhập khẩu, nhóm tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng chiếm 58,3%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%; hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%.
Bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng ban Thống kê dịch vụ và giá (Cục Thống kê) nhận định rằng, cần nhìn nhận vai trò của nhập khẩu một cách đầy đủ hơn, nhất là khi nhập khẩu phần lớn phục vụ nhu cầu nguyên liệu, linh kiện, máy móc và thiết bị đầu vào cho sản xuất, đặc biệt là gia công sản xuất hàng xuất khẩu.
![]() |
| Các ngành hàng nhập khẩu chủ lực 9 tháng năm 2026. Thiết kế: Thu Hiền. |
Theo bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), một trong số nhóm nguyên nhân khiến nhập khẩu ngành hàng này tăng cao là do doanh nghiệp mở rộng nhà máy, nâng cao công suất tại Việt Nam. Nhiều dự án đầu tư mới, trong đó có nhiều dự án về kiểm thử chip, dự án về AI như Samsung tái đầu tư nhà máy mới tại Thái Nguyên quy mô ban đầu 1,5 tỷ USD, Intel chuyển dây chuyền chip từ Costa Rica về Việt Nam, Nhà máy điện tử BYD Việt Nam (Hong Kong) tăng đầu tư tại tỉnh Phú Thọ, LG, Quanta, Foxconn cũng tăng vốn đầu tư...
Những nhóm hàng nhập khẩu tập trung chủ yếu ở các nhóm hàng đầu vào thiết yếu và tư liệu sản xuất, phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất, gia tăng đầu tư và chuẩn bị năng lực cho tăng trưởng trong thời gian tới. Điển hình như máy móc, thiết bị nhập khẩu khi được đưa vào vận hành, các thiết bị này giúp doanh nghiệp tăng công suất, rút ngắn thời gian sản xuất, giảm tỷ lệ lỗi, nâng độ chính xác và đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu.
Giá trị của máy móc sau đó được phân bổ dần vào sản phẩm qua khấu hao, còn giá trị xuất khẩu được tạo ra từ toàn bộ quá trình sản xuất gồm máy móc, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ và quản trị. Vì vậy, không thể quy đổi trực tiếp 1 USD máy móc nhập khẩu thành bao nhiêu USD xuất khẩu, nhưng có thể xem nhập khẩu máy móc là một khoản đầu tư tạo năng lực sản xuất mới.
Vì vậy, nhập khẩu tăng trong bối cảnh sản xuất mở rộng không đồng nghĩa với chất lượng thương mại đi xuống. Giá trị nguyên liệu đầu vào tăng cao, tăng tích lũy tồn kho và mở rộng sản xuất là một số yếu tố góp phần khiến giá trị nhập khẩu trong giai đoạn vừa qua tăng cao.
Ngành điện tử là một điển hình khá rõ của vấn đề này do vừa có kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị và linh kiện rất lớn, vừa là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực.
Theo số liệu thống kê, giá trị nhập khẩu mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện trong 9 tháng qua đạt 188,9 tỷ USD, tăng 71,7% so với cùng kỳ năm trước, lớn hơn nhiều so với giá trị xuất khẩu 123,6 tỷ USD trong cùng kỳ; nhập siêu cục bộ ở nhóm hàng này lên đến 65,3 tỷ USD. Tuy nhiên, ngành này vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn cung linh kiện, nguyên vật liệu và công nghệ từ nước ngoài trong khi giá trị gia tăng nội địa và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng còn hạn chế.
Điều đó cho thấy nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu để mở rộng năng lực sản xuất là cần thiết, nhưng nếu tỷ lệ nội địa hóa không được cải thiện, quy mô nhập khẩu lớn cũng có thể kéo dài sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Bài toán đặt ra không phải giảm nhập khẩu bằng mọi giá, mà là tăng hiệu quả sử dụng hàng nhập khẩu và nâng dần năng lực cung ứng trong nước.
Ngoài ra, việc kim ngạch tháng 9/2026 “đảo chiều” sang xuất siêu cho thấy, xuất khẩu có khả năng tăng tốc khi đầu vào nhập khẩu được chuyển hóa thành sản phẩm. Bà Nguyễn Thu Oanh nhận định, tín hiệu xuất siêu trở lại cho thấy doanh nghiệp đã chuẩn bị nguyên vật liệu cho các đơn hàng gia công hàng xuất khẩu và hoạt động sản xuất, đầu tư và năng lực xuất khẩu sẽ được mở rộng trong thời gian tới.
![]() |
| Cần nâng năng lực cung ứng nội địa, tạo ra nhiều giá trị hơn trong mỗi sản phẩm xuất khẩu. Ảnh: Thu Hiền. |
Tỷ lệ nội địa hóa chỉ thực sự có ý nghĩa khi linh kiện và nguyên vật liệu sản xuất trong nước đáp ứng được yêu cầu về công nghệ, chất lượng, sản lượng, giá thành và thời gian giao hàng của các chuỗi sản xuất toàn cầu. Đây cũng là khoảng trống mà nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực đang phải đối mặt.
Theo Bộ Công Thương, ngành dệt may hiện mới nội địa hóa khoảng 50% nguyên phụ liệu; riêng sản xuất vải trong nước đáp ứng khoảng 36% nhu cầu. Việc phụ thuộc đáng kể vào nguyên phụ liệu nhập khẩu không chỉ làm tăng rủi ro khi chuỗi cung ứng biến động mà còn hạn chế khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ để tận dụng đầy đủ ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA).
Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) nhấn mạnh, dệt may không thể chỉ chạy theo tăng trưởng kim ngạch mà phải nâng chất lượng tăng trưởng, trong đó chủ động nguyên phụ liệu là yêu cầu quan trọng. Tăng nguồn cung trong nước cũng giúp doanh nghiệp đáp ứng quy tắc xuất xứ và tận dụng tốt hơn các FTA.
Da giày cũng đứng trước bài toán tương tự khi nguyên phụ liệu vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn của ngành do phần lớn da thuộc, đế giày, phụ kiện, hóa chất và vật liệu kỹ thuật vẫn phải nhập khẩu. Bà Phan Thị Thanh Xuân, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam cho rằng, phát triển nguồn nguyên phụ liệu trong nước là giải pháp căn cơ để nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chủ động của chuỗi cung ứng.
Việc phụ thuộc nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu không chỉ ảnh hưởng đến giá thành mà còn đặt ra thách thức về quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn kỹ thuật để hưởng ưu đãi từ các FTA. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ cần tập trung vào sản phẩm có nhu cầu lớn, doanh nghiệp Việt Nam có khả năng làm chủ và gắn với nhu cầu thực tế của khu vực FDI. Để xuất khẩu tăng nhanh mà giá trị giữ lại trong nước lớn hơn, yêu cầu đầu tiên là nâng năng lực cung ứng nội địa, từng bước tạo ra nhiều giá trị hơn trong mỗi sản phẩm xuất khẩu.
| Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu đến năm 2030 một số ngành công nghiệp chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40-45%; trong đó điện tử đạt 25-30%, dệt may 60%, da giày 60-65%...; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ, quản trị, nghiên cứu phát triển và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. |
Yêu cầu nâng năng lực cung ứng trong nước tiếp tục được đặt ra rõ hơn tại hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” ngày 30/9. Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh, cần chuyển từ nội địa hóa theo tỷ lệ sang làm chủ năng lực, từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ theo chuỗi, theo công đoạn và từ chú trọng thu hút FDI sang sử dụng hiệu quả FDI, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam.
Theo yêu cầu của Phó Thủ tướng, nguồn lực hỗ trợ phải tạo thêm nhà cung ứng đạt chuẩn và tăng giá trị gia tăng trong nước. Bộ Công Thương được giao xây dựng kế hoạch hành động phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2028, rà soát các sản phẩm ưu tiên và thúc đẩy hình thành thêm các nhà cung ứng trong nước đạt chuẩn.
Trước nguy cơ cán cân thương mại hàng hóa năm 2026 nhập siêu ngày càng rõ nét, Cục Thống kê nhận định, áp lực đang đặt lên thị trường ngoại hối và tỷ giá. Nếu năng lực cung ứng trong nước không cải thiện thì nhu cầu nhập khẩu lớn sẽ chuyển từ “đầu vào cho tăng trưởng” thành sự phụ thuộc; từ đó đòi hỏi cần giải pháp quản trị nhập khẩu hiệu quả hơn, tránh nguy cơ nhập siêu kéo dài ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô.
Việc cán cân thương mại trở lại xuất siêu trong tháng 9/2026 là tín hiệu tích cực, nhưng điều quan trọng hơn vẫn là khả năng chuyển hóa dòng nhập khẩu phục vụ sản xuất thành năng lực xuất khẩu và giá trị gia tăng cao hơn trong nước. Muốn xuất khẩu tiếp tục tăng tốc và đóng góp thực chất cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số, cùng với nâng tỷ lệ nội địa hóa và năng lực của công nghiệp hỗ trợ, những điểm nghẽn về vốn, logistics, thủ tục, khả năng tận dụng FTA, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và liên kết chuỗi cung ứng cũng cần được tháo gỡ đồng bộ. Đây chính là những điều kiện quyết định để doanh nghiệp mở rộng dư địa thị trường, nâng sức cạnh tranh và tạo thêm động lực cho xuất khẩu trong chặng nước rút cuối năm.