![]() |
| Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục tăng tốc, khẳng định là động lực cho tăng trưởng kinh tế. Ảnh: Tư liệu |
Chín tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục tăng tốc, khẳng định là động lực cho tăng trưởng kinh tế. Đóng góp vào kết quả này là sức bật của nhiều ngành hàng, thị trường và cộng đồng doanh nghiệp. Trong quý cuối năm, yêu cầu đặt ra không chỉ là giữ tốc độ tăng kim ngạch, mà còn phải giữ đơn hàng, thị trường và nâng phần giá trị mà nền kinh tế Việt Nam thực sự tạo ra.
Nhìn từ những ngành hàng chủ lực
Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước, khẳng định quy mô thương mại tiếp tục mở rộng nhanh. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 434,3 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong quý III, kim ngạch xuất khẩu đạt 167,85 tỷ USD, tăng 17% so với quý II và tăng 30,4% so với cùng kỳ.
Vai trò áp đảo của công nghiệp chế biến, chế tạo là điểm sáng nổi bật trong bức tranh xuất khẩu. Trong 9 tháng, nhóm hàng này đạt 392,79 tỷ USD, chiếm 90,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Có 35 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên, chiếm 94,3% tổng kim ngạch; trong đó 7 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 70,7%. Cơ cấu này cho thấy, xuất khẩu Việt Nam ngày càng gắn chặt với các chuỗi sản xuất công nghiệp và mạng lưới cung ứng quốc tế.
Điện tử, máy tính và linh kiện tiếp tục dẫn đầu, với kim ngạch xuất khẩu đạt 123,66 tỷ USD, tăng 59,6% so với cùng kỳ; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt hơn 55 tỷ USD, tăng 27,9%; điện thoại và linh kiện đạt 51,77 tỷ USD, tăng 18,8%. Dệt may đạt hơn 30,32 tỷ USD; giày dép 18,04 tỷ USD; phương tiện vận tải và phụ tùng 15,1 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ 13,3 tỷ USD. Các nhóm hàng này cho thấy, vai trò của công nghiệp chế biến, chế tạo với chuỗi cung ứng quốc tế và khả năng đáp ứng đơn hàng lớn của doanh nghiệp.
![]() |
| Các ngành hàng xuất khẩu chủ lực 9 tháng năm 2026. |
Kết quả xuất khẩu cũng đồng thời đặt ra câu hỏi về mức độ lan tỏa tới doanh nghiệp trong nước. Khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 350,41 tỷ USD, tăng 29,4%, chiếm 80,7% tổng kim ngạch; khu vực trong nước đạt 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%, chiếm 19,3%. FDI đóng góp khoảng 93,2% phần kim ngạch tăng thêm, trong khi khu vực trong nước chỉ đóng góp 6,8%. Khoảng cách này cho thấy, yêu cầu nâng liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn FDI vẫn là một trong những nhiệm vụ then chốt.
Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, nghiên cứu viên cao cấp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, không nên nhìn mức tăng trưởng xuất khẩu 24,5% như một con số đơn lẻ. Nếu quy đổi từ các mức kim ngạch và tốc độ tăng đã công bố, khu vực FDI tạo ra khoảng 79,6 tỷ USD trong tổng số gần 85,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tăng thêm, tương đương khoảng 93,2%; khu vực trong nước đóng góp khoảng 5,9 tỷ USD. Điều này không làm giảm vai trò của FDI, mà cho thấy hiệu ứng lan tỏa sang doanh nghiệp Việt Nam chưa theo kịp tốc độ mở rộng xuất khẩu. Vì vậy, bên cạnh kim ngạch xuất khẩu, cần quan tâm tới số nhà cung ứng nội địa tham gia chuỗi, tỷ lệ mua hàng trong nước, năng lực công nghệ được hình thành và phần giá trị doanh nghiệp Việt Nam thực sự giữ lại.
Nổi bật trong kết quả xuất khẩu 9 tháng năm 2026, phản ánh sức mạnh nội sinh, ghi nhận xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng trưởng nhờ nhiều ngành hàng duy trì đà tăng. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 29,3 tỷ USD; lâm sản đạt 14,4 tỷ USD; thủy sản đạt gần 9,2 tỷ USD; sản phẩm chăn nuôi đạt hơn 564 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ. Toàn ngành nông, lâm, thủy sản tiếp tục xuất siêu khoảng 16,9 tỷ USD, khẳng định vai trò quan trọng trong tạo nguồn thu ngoại tệ và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Đặc biệt, ngành rau quả là điểm sáng với kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ; thủy sản tăng 12,3%, trong khi gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục giữ vai trò trụ cột về quy mô. Riêng cà phê tăng 15,4% về lượng nhưng kim ngạch xuất khẩu giảm 7,3% do giá xuất khẩu bình quân giảm gần 20%; gạo cũng giảm 10,9% về giá trị. Điều đó cho thấy, điều kiện thương mại chưa hoàn toàn thuận lợi và càng nhấn mạnh yêu cầu nâng giá trị gia tăng thay vì chỉ mở rộng sản lượng.
Thị trường biến động thử thách sức bền xuất khẩu
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt 140 tỷ USD. EU và Nhật Bản cũng là những thị trường quan trọng, góp phần tạo quy mô và duy trì đầu ra cho nhiều ngành hàng. Tuy nhiên, mức độ hội nhập sâu rộng cũng khiến hàng hóa Việt Nam nhạy cảm hơn trước thay đổi về chính sách thương mại, sức mua, tỷ giá, chi phí vận chuyển và tiêu chuẩn nhập khẩu. Bởi vậy, duy trì tăng trưởng không thể chỉ dựa vào những thị trường đã có, mà cần chủ động quản trị rủi ro và đa dạng hóa đầu ra phù hợp với năng lực từng ngành hàng.
![]() |
| Điện tử, máy tính và linh kiện cùng điện thoại và linh kiện tiếp tục là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Ảnh: Tư liệu. |
Trong bối cảnh địa chính trị, chi phí năng lượng, vận tải và chính sách thương mại còn nhiều biến động, lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở giá bán. Khả năng giao hàng ổn định, đáp ứng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và duy trì chất lượng đồng đều cũng quyết định việc doanh nghiệp có giữ được khách hàng sau một đơn hàng hay không.
Yêu cầu về môi trường, phát thải, trách nhiệm xã hội và minh bạch chuỗi cung ứng ngày càng trở thành điều kiện tiếp cận thị trường. Với ngành gỗ là nguồn nguyên liệu hợp pháp; nông sản, thủy sản phải đáp ứng kiểm dịch, an toàn thực phẩm và truy xuất vùng nguyên liệu; dệt may, da giày chịu sức ép về sản xuất xanh và trách nhiệm chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp cần kiểm soát các yêu cầu này từ khâu chọn nhà cung cấp đến tổ chức sản xuất và lưu trữ hồ sơ.
Cùng với đó là nguy cơ phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu. Theo Bộ Công Thương, tính đến giữa tháng 9/2026, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đối mặt với 327 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại từ 27 thị trường; riêng 9 tháng phát sinh 27 vụ việc mới. Khi kim ngạch và thị phần tại các thị trường lớn tăng lên, doanh nghiệp càng cần theo dõi cảnh báo sớm, quản trị dữ liệu về giá thành và xuất xứ, đồng thời phối hợp với hiệp hội và cơ quan quản lý để chuẩn bị hồ sơ ngay từ đầu, thay vì chỉ xử lý khi vụ việc đã phát sinh.
Chi phí logistics tiếp tục gây sức ép lên hiệu quả đơn hàng. Biến động trên các tuyến hàng hải quốc tế, trong đó có tình hình an ninh tại Biển Đỏ, làm thay đổi thời gian và chi phí vận chuyển. Bộ Công Thương ghi nhận tại một số tuyến đi Nam Mỹ, chi phí logistics có thời điểm tăng 50-80% so với giai đoạn trước khủng hoảng. Khi chi phí vận chuyển tăng, doanh nghiệp khó có thể chuyển toàn bộ phần tăng thêm vào giá bán mà không ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và lợi nhuận.
| Trong bối cảnh phải đối mặt với thay đổi chính sách thương mại, thuế quan của Hoa Kỳ và chi phí logistics gia tăng, doanh nghiệp dệt may cần chủ động giữ đơn hàng hiện có, tìm kiếm thị trường mới, đa dạng hóa thị trường. Đồng thời, cần nâng chất lượng, năng suất, nguyên phụ liệu, chuyển đổi số và xanh hóa. Với thị trường khó tính, ESG và giảm phát thải carbon trở thành điều kiện để giữ đơn hàng. Đây cũng là hướng nâng cao giá trị trong từng đơn hàng và sức cạnh tranh dài hạn.
|
Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, việc phải ứng phó đồng thời với biến động chính sách, thuế quan, phòng vệ thương mại, quy tắc xuất xứ và các tiêu chuẩn về phát thải, truy xuất, trách nhiệm xã hội là một thách thức lớn. Do đó, quản trị tuân thủ của doanh nghiệp cần bắt đầu từ lựa chọn nhà cung cấp, ký hợp đồng và tổ chức sản xuất, đồng thời lưu trữ dữ liệu lô hàng để chủ động khi thị trường yêu cầu xác minh.
Ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, xuất khẩu cần gắn với nâng cao giá trị gia tăng, khai thác hiệu quả các FTA và tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, logistics, năng lực cạnh tranh. Để đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu năm 2026, đòi hỏi nỗ lực cao của các ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.
Đa dạng hóa thị trường cũng cần được hiểu như quản trị một danh mục, không phải mở rộng dàn trải. Các thị trường truyền thống tạo quy mô, còn Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh có thể tạo lớp đệm. Với Trung Đông, nhu cầu lương thực, thực phẩm chế biến, hàng tiêu dùng và sản phẩm Halal phù hợp với nhiều thế mạnh của Việt Nam, nhưng cần chuẩn bị đồng thời chứng nhận, kênh phân phối, đối tác bản địa, thanh toán và logistics.
Về dài hạn, PGS.TS Đinh Công Hoàng đề xuất hướng tới năng lực “Sản xuất tại Việt Nam, có thể kiểm chứng”. Đây không phải một nhãn mới, mà là khả năng trả lời bằng dữ liệu ba câu hỏi: sản xuất ở đâu, sản phẩm đã được chuyển đổi như thế nào và ai chịu trách nhiệm về tính xác thực. Khi hồ sơ nguồn nguyên liệu, công suất, năng lượng, lao động và quy trình sản xuất có thể kiểm chứng theo lô hàng, minh bạch xuất xứ vừa giúp giảm rủi ro điều tra, vừa biến uy tín “Made in Vietnam” thành một tài sản cạnh tranh của doanh nghiệp.
Có thể nói, chặng nước rút quý cuối năm không chỉ là cuộc đua tăng kim ngạch, mà còn là phép thử về khả năng giữ đơn hàng, giữ thị trường và nâng phần giá trị ở lại trong nền kinh tế. Khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, sản phẩm được chế biến sâu hơn và thương hiệu được nâng lên, cùng một mức kim ngạch có thể tạo ra giá trị lớn hơn. Sức bật xuất khẩu chỉ trở thành động lực bền vững khi đi cùng năng lực sản xuất, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh ngày càng cao.