![]() |
| Xuất khẩu cần chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Ảnh: Tư liệu. |
Gỡ nút thắt để tiếp sức doanh nghiệp
Quý cuối năm không chỉ đòi hỏi thêm đơn hàng mà còn cần bảo đảm doanh nghiệp đủ vốn, nguyên liệu, năng lực sản xuất, logistics và thủ tục để giao hàng đúng hạn. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt hơn 888 tỷ USD, tăng 30,4%; xuất khẩu đạt 434,3 tỷ USD, tăng 24,5%. Riêng quý III, xuất khẩu đạt 167,85 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ và 17% so với quý II. Đà tăng tạo thêm cơ hội, song cũng khiến vướng mắc ở từng khâu dễ chuyển thành chi phí, chậm giao hàng và nguy cơ mất khách hàng.
PGS.TS Đinh Công Hoàng, nghiên cứu viên cao cấp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, cần ưu tiên xử lý những trở ngại ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ thực hiện đơn hàng. Trong quý cuối năm, trọng tâm là thông quan, kiểm tra chuyên ngành, hoàn thuế, vốn lưu động và vận tải; đồng thời nâng chất lượng thông tin thị trường, xúc tiến theo nhà mua hàng và tận dụng các FTA. Về dài hạn, công nghiệp hỗ trợ, liên kết khu vực FDI, công nghệ và thương hiệu quyết định sức cạnh tranh.
| Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cần được triển khai đồng bộ ở cấp Nhà nước, ngành hàng và doanh nghiệp. Bên cạnh tháo gỡ khó khăn trước mắt, cần nâng năng lực tuân thủ, minh bạch chuỗi cung ứng và khả năng truy xuất nguồn gốc; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp quản trị rủi ro, điều chỉnh sản phẩm, đa dạng hóa nguồn cung và thị trường. Về dài hạn, năng lực cạnh tranh không thể chỉ dựa vào giá thấp, mà phải được củng cố bằng chất lượng ổn định, giao hàng đúng hạn, dữ liệu xuất xứ đáng tin cậy và giá trị gia tăng cao hơn.
|
Từ góc nhìn này, cải cách thể chế và tạo thuận lợi thương mại là một phần của năng lực xuất khẩu. Số hóa quy trình, liên thông dữ liệu, giảm khâu trung gian và quản lý dựa trên rủi ro giúp tiết kiệm thời gian, chi phí. Hiệu quả cần đo bằng thời gian xử lý hồ sơ, chi phí tuân thủ và tỷ lệ lô hàng thông quan đúng kế hoạch, không chỉ bằng số quy định được sửa đổi.
Hoàn thuế tác động trực tiếp đến vòng quay vốn, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa phải ứng tiền cho nguyên liệu, tiền lương và vận chuyển trước khi thu tiền hàng. Cần công khai quy trình, thời hạn xử lý, liên thông dữ liệu; tạo thuận lợi cho hồ sơ minh bạch, đồng thời tập trung kiểm tra trường hợp có dấu hiệu rủi ro. Giải phóng vốn đúng lúc giúp doanh nghiệp duy trì sản xuất và nhận đơn hàng mới.
Logistics là mắt xích quyết định hiệu quả cuối cùng của đơn hàng. Cước vận tải, lưu kho, trung chuyển và thời gian chờ tại cảng, cửa khẩu ảnh hưởng đến giá thành, nhất là với nông sản, thủy sản, dệt may và da giày. Cần kết nối vùng nguyên liệu, nhà máy, kho, cảng, cửa khẩu và thị trường; thúc đẩy chứng từ số, chia sẻ năng lực kho vận và phát triển hành lang logistics gắn với vùng sản xuất. Hiệu quả cần đo bằng thời gian vận chuyển, tỷ lệ giao đúng hạn và chi phí trên mỗi đơn hàng.
Vốn cũng phải được gắn với dòng tiền của đơn hàng. Tài trợ chuỗi cung ứng, chiết khấu khoản phải thu, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá có thể giảm áp lực vốn lưu động. Các công cụ này cần đi cùng thông tin minh bạch và quản trị rủi ro để doanh nghiệp nhận đơn hàng lớn mà không mất cân đối tài chính. Trong bối cảnh xuất khẩu tăng nhanh, khả năng tiếp cận vốn đúng thời điểm có ý nghĩa trực tiếp với năng lực duy trì đơn hàng trong quý cuối năm.
Khắc phục những hạn chế trước hết cần gắn với nâng cao năng lực sản xuất trong nước. 9 tháng năm 2026, khu vực FDI chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu và đóng góp khoảng 93,2% phần tăng thêm; khu vực trong nước chiếm 19,3%. Điều đó cho thấy, vai trò lớn của khu vực FDI, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng. Cần phát triển nhà cung ứng theo ngành, hỗ trợ cải tiến công nghệ, quản trị, chứng nhận và kết nối với nhu cầu mua hàng của các tập đoàn. Mục tiêu không phải thay thế FDI mà là tạo liên kết thực chất, để giá trị lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế.
Mở rộng thị trường, nâng sức bật cho mục tiêu tăng trưởng
Mạng lưới FTA chỉ trở thành lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam khi doanh nghiệp đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu môi trường và cách phân phối của từng thị trường. Việc tận dụng ưu đãi phải bắt đầu từ lựa chọn nguyên liệu, tính tỷ lệ xuất xứ và quản trị hồ sơ ngay trong sản xuất. Cơ quan quản lý, hiệp hội và Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài cần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường về nhu cầu, đối tác, quy định nhập khẩu và những thay đổi chính sách.
![]() |
| Khu vực FDI vẫn giữ vai trò chủ lực khi chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ảnh: Tư liệu. |
Mở rộng thị trường không có nghĩa chạy theo số lượng địa chỉ xuất khẩu. Doanh nghiệp cần chọn thị trường phù hợp với sản phẩm, khả năng giao hàng và nguồn lực. Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh có thể mở thêm dư địa, nhưng cần chuẩn bị chứng nhận, tiêu chuẩn kỹ thuật, đối tác phân phối, thanh toán và logistics. Xúc tiến thương mại nên tập trung kết nối ngành hàng với nhà mua hàng cụ thể và hỗ trợ xử lý vướng mắc sau kết nối.
Bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhấn mạnh, cần chuyển từ cung cấp thông tin thị trường sang tháo gỡ trực tiếp khó khăn trong sản xuất và xuất khẩu. Trọng tâm là xử lý vướng mắc về thủ tục, nguyên liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật và thực hiện đơn hàng, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, rút ngắn thời gian giao hàng.
Bên cạnh đó, để khai thác hiệu quả các FTA, doanh nghiệp cần bảo đảm tuân thủ quy tắc xuất xứ hàng hóa và đáp ứng các tiêu chuẩn về phát triển bền vững của thị trường nhập khẩu. Mở rộng thị trường cần song hành với giữ vững thị trường. Xuất khẩu càng tăng, nguy cơ phòng vệ thương mại càng lớn. Doanh nghiệp cần lưu dữ liệu về giá thành, xuất xứ, nhà cung cấp và giao dịch; hiệp hội tăng cảnh báo sớm; cơ quan quản lý hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ và phối hợp xử lý rủi ro.
PGS.TS Đinh Công Hoàng nhấn mạnh, yêu cầu xây dựng năng lực “Sản xuất tại Việt Nam, có thể kiểm chứng”. Xuất xứ cần được quản trị từ hợp đồng mua nguyên liệu, hồ sơ nhà cung cấp, công suất và dữ liệu sản xuất, thay vì đợi đến khi hàng chuẩn bị xuất khẩu. Hồ sơ minh bạch giúp chứng minh nguồn gốc và bảo vệ uy tín hàng Việt. Cơ quan quản lý có thể tập trung vào doanh nghiệp, mã hàng, tuyến rủi ro cao; hiệp hội hỗ trợ chuẩn hóa hồ sơ, nhất là với doanh nghiệp nhỏ.
| Để đạt mục tiêu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt xa mốc 1.000 tỷ USD, cần triển khai đồng bộ giải pháp từ duy trì sản xuất, bảo đảm năng lượng, nguyên liệu đến tháo gỡ thủ tục và giảm chi phí logistics. Tại họp báo thường kỳ quý III/2026, Bộ Công Thương xác định trọng tâm là thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường, khai thác hiệu quả các FTA, nâng cao năng lực tuân thủ và chủ động ứng phó rào cản thương mại. Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cũng yêu cầu gắn nhập khẩu với sản xuất, xuất khẩu, sử dụng hiệu quả đầu vào và phát triển nhà cung ứng trong nước. Về dài hạn, cần tăng liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với khu vực FDI, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng giá trị gia tăng nội địa, qua đó củng cố sức cạnh tranh, hướng tới tăng trưởng thương mại bền vững. |
Từ góc nhìn ngành điện tử, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam cho rằng, kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, linh kiện và quá trình sản xuất là yêu cầu tất yếu. Cảnh báo sớm về thuế quan, xuất xứ, hàng rào kỹ thuật và phòng vệ thương mại giúp doanh nghiệp điều chỉnh nguồn cung, sản phẩm và hồ sơ. Ngành điện tử có cơ hội lớn từ AI, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và dịch chuyển chuỗi cung ứng, song doanh nghiệp Việt Nam cần nâng năng lực để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Xanh hóa và số hóa cần được xem là điều kiện nâng sức cạnh tranh, không chỉ là chi phí tuân thủ. Tiêu chuẩn về phát thải, năng lượng, truy xuất và trách nhiệm xã hội ngày càng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường. Công nghệ sạch, quản trị dữ liệu và kiểm soát chất lượng giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực, đáp ứng yêu cầu khách hàng và phản ứng nhanh khi quy định thay đổi. Với nông, lâm, thủy sản, điều này còn đòi hỏi tổ chức vùng nguyên liệu và truy xuất đồng bộ.
Giải quyết các rào cản không chỉ nhằm thúc đẩy xuất khẩu bứt tốc mà còn tạo điều kiện chuyển đà tăng kim ngạch thành động lực tăng trưởng bền vững, nâng cao chất lượng và sức chống chịu của nền kinh tế. Khi thủ tục thông suốt, logistics hiệu quả, dòng vốn được khơi thông, thị trường mở rộng có trọng điểm và doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, xuất khẩu sẽ tạo giá trị lan tỏa lớn hơn.
Vì vậy, chặng nước rút cần được đánh giá cả về quy mô thương mại và chất lượng tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu được kỳ vọng sẽ vượt xa mốc lịch sử 1.000 tỷ USD trong năm 2026; riêng xuất khẩu có khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng 15-16%, với kim ngạch dự báo đạt khoảng 550 tỷ USD, nhưng dấu mốc này chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng và khả năng thích ứng được nâng cao. Đây cũng là điều kiện để xuất khẩu đóng góp thiết thực hơn vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững trước những biến động toàn cầu.