| Tháo gỡ vướng mắc đối với vật liệu xây dựng nhập khẩu Từ nỗ lực giảm tải thủ tục đến mục tiêu quản trị số hiện đại Định hình lại thủ tục hải quan và giao dịch của doanh nghiệp chế xuất |
Chuẩn hóa kiểm tra và cơ chế sử dụng kết quả phân tích
Nội dung kiểm tra mã HS được sửa đổi tại khoản 13 Điều 1 Thông tư số 121/2025/TT-BTC hiện nay đã được mở rộng đáng kể. Theo đó, cơ quan Hải quan sẽ kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của không chỉ tên hàng, mô tả hàng hóa, mã số hàng hóa, mức thuế mà còn cả “đơn vị tính”. Đây là yếu tố then chốt để xác định trị giá hải quan và ngăn chặn các hành vi gian lận thông qua việc khai sai quy cách đóng gói hoặc định lượng.
Việc bổ sung “đơn vị tính” vào nội dung kiểm tra tính chính xác là bước đi nhằm minh bạch hóa các chỉ tiêu trên tờ khai, hạn chế sai lệch về trị giá và mức thuế. Đồng thời, cơ quan Hải quan tăng cường áp dụng các thiết bị kỹ thuật nội bộ để đánh giá tiêu chí kỹ thuật, giúp đẩy nhanh tiến độ thông quan nhưng vẫn đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ đối với các mặt hàng có độ rủi ro cao. Những điều chỉnh này tại Thông tư số 121/2025/TT-BTC đang tạo ra một chuẩn mực mới trong quản lý rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
Trong trường hợp người khai hải quan không nộp bổ sung tài liệu chứng minh hoặc tài liệu chưa đủ cơ sở xác định bản chất hàng hóa, cơ quan Hải quan sẽ yêu cầu phân tích, phân loại hoặc kiểm tra, đánh giá tiêu chí kỹ thuật bằng máy móc, thiết bị nội bộ.
![]() |
| Công chức hải quan kiểm tra hàng hóa nhập khẩu. Ảnh: HN |
Điểm mới đáng lưu ý là việc gửi mẫu hàng hóa đi giám định không còn thực hiện đại trà. Mẫu hàng phải thuộc Danh mục hàng hóa tiếp nhận phân tích hoặc Danh mục đánh giá tiêu chí kỹ thuật bằng máy móc do Cục Hải quan ban hành và công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan Hải quan.
Đặc biệt, cơ chế sử dụng kết quả phân tích của lô hàng trước cho các lô hàng sau đã được thắt chặt hơn tại khoản 3 Điều 24 Thông tư số 121/2025/TT-BTC. Theo đó, ngoài các yếu tố như cùng tên hàng, xuất xứ, nhà sản xuất và mã HS, tờ khai mới phải đảm bảo đồng nhất hoàn toàn cả phần mô tả hàng hóa. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải xây dựng một hệ thống danh mục hàng hóa chuẩn hóa nội bộ, đảm bảo từng câu chữ trong phần mô tả sản phẩm trên tờ khai phải khớp tuyệt đối với lô hàng đã được giám định trước đó để được chấp nhận kết quả cũ.
Bên cạnh đó, thủ tục xác định trước mã số hàng hóa tại Điều 7 Thông tư số 121/2025/TT-BTC cũng được kiện toàn. Nếu hồ sơ xác định trước chưa đủ minh bạch, cơ quan Hải quan có quyền yêu cầu doanh nghiệp bổ sung chứng thư giám định từ các tổ chức chuyên môn độc lập. Thông tư số 121/2025/TT-BTC cũng bổ sung một loạt biểu mẫu mới tại phụ lục VI như Đơn đề nghị (mẫu 01/XĐTMS/NVTHQ), Thông báo kết quả (mẫu 01a-TB XDTMS), cho đến các mẫu thông báo sửa đổi, thay thế hoặc hủy bỏ kết quả, giúp quy trình này trở nên chuyên nghiệp và có tính hệ thống cao hơn.
Kiểm tra thực tế cơ sở sản xuất và điều kiện giám sát
Song song với việc kiểm tra hàng hóa, quy trình kiểm tra cơ sở, năng lực gia công sản xuất đã được bổ sung nhiều tiêu chí thực tế nhằm xác minh “thực lực” của doanh nghiệp. Cơ quan Hải quan sẽ kiểm tra địa chỉ cơ sở, nơi lưu giữ vật tư và đặc biệt là đối chiếu với “thời hạn thực hiện dự án” ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC). Việc này đảm bảo các ưu đãi về thuế chỉ được áp dụng khi dự án còn trong thời hạn triển khai hợp pháp.
Thông tư số 121/2025/TT-BTC thể hiện cái nhìn linh hoạt và thực tế hơn. Tại điểm đ khoản 1 Điều 57 Thông tư số 121/2025/TT-BTC, cơ quan Hải quan chấp nhận tình trạng tại thời điểm kiểm tra cơ sở chưa có nhân công hoặc chưa thực hiện đóng bảo hiểm xã hội (thường xảy ra với doanh nghiệp mới thành lập).
Cơ quan Hải quan sẽ ghi nhận lại tình trạng này và yêu cầu doanh nghiệp phải có giải trình, chứng minh bổ sung ngay sau khi nhà máy chính thức đi vào hoạt động. Đây là điểm tháo gỡ khó khăn rất lớn cho các dự án mới đang trong giai đoạn lắp đặt máy móc nhưng cần nhập khẩu nguyên liệu để chạy thử.
Riêng đối với doanh nghiệp chế xuất (DNCX), hoạt động kiểm tra cơ sở sản xuất không chỉ dừng lại ở năng lực máy móc mà còn đi kèm với việc đánh giá khắt khe các điều kiện giám sát hải quan theo Điều 28a Nghị định số 18/2021/NĐ-CP. Các yếu tố hạ tầng cứng như tường rào ngăn cách, hệ thống cổng trạm kiểm soát và đặc biệt là hệ thống camera giám sát kết nối trực tuyến với cơ quan Hải quan phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn. Sự minh bạch về hạ tầng là điều kiện tiên quyết để DNCX được hưởng các chính sách thuế đặc thù.
Ngoài ra, quy định liên quan đến xử lý kết luận kiểm tra theo Thông tư số 121/2025/TT-BTC mang tính quyết định đến quyền lợi sát sườn của doanh nghiệp. Nếu kết quả kiểm tra cơ sở và năng lực sản xuất phù hợp, đồng thời không phát hiện vi phạm, doanh nghiệp sẽ được hưởng các ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu kể từ thời điểm thông báo cơ sở sản xuất cho cơ quan Hải quan. Ngược lại, bất kỳ sự sai lệch nào giữa thực tế và khai báo đều có thể dẫn đến việc bác bỏ quyền hưởng ưu đãi thuế và áp dụng các biện pháp truy thu, xử phạt.
Có thể nói, sự chuyển dịch từ kiểm tra thủ công sang áp dụng máy móc kỹ thuật, cùng việc siết chặt tính đồng nhất của mô tả hàng hóa tại Thông tư số 121/2025/TT-BTC chính là thông điệp về một kỷ nguyên quản lý hải quan hiện đại.