![]() |
| Chín tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hạt tiêu tăng 16,2% về lượng và 11,4% về trị giá so với cùng kỳ. Ảnh: Minh Hà. |
Theo Cục Hải quan, 9 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 216,66 nghìn tấn hạt tiêu, trị giá 1,41 tỷ USD, tăng 16,2% về lượng và 11,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 6.509 USD/tấn, giảm 4,1%.
Chênh lệch giữa tốc độ tăng lượng và trị giá cho thấy động lực tăng trưởng của ngành chủ yếu đến từ khối lượng xuất khẩu. Doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn, nhưng giá bình quân thấp hơn cùng kỳ khiến mức tăng kim ngạch chưa tương xứng, từ đó đặt ra yêu cầu nâng giá trị sản phẩm để củng cố hiệu quả xuất khẩu.
Riêng tháng 9/2026, xuất khẩu đạt 25,15 nghìn tấn, trị giá 163,5 triệu USD, tăng lần lượt 10,6% và 10,8% so với tháng trước. Giá bình quân gần như ổn định, nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ năm 2025, cho thấy đà tăng xuất khẩu được duy trì trong bối cảnh mặt bằng giá chưa phục hồi về mức của năm trước.
Thị trường Hoa Kỳ tiếp tục đóng vai trò là thị trường xuất khẩu quan trọng với lượng hạt tiêu xuất sang thị trường này đạt 52,74 nghìn tấn trong 9 tháng năm 2026, chiếm 24,34% tổng lượng xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam, tăng 26,3% về lượng và 21,4% về trị giá, góp phần đáng kể vào kết quả chung.
Theo ông Phan Minh Thông, Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sinh, dù chịu tác động về thuế quan, thị phần hồ tiêu Việt Nam tại Hoa Kỳ vẫn khá vững chắc bởi nước này đang phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu.
Tuy nhiên, diễn biến giữa các thị trường chưa đồng đều, lượng xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Hà Lan tăng, trong khi xuất khẩu sang Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, Ấn Độ, Đức và Anh giảm. Riêng tháng 9, một số thị trường như Anh, Ấn Độ tăng trở lại so với cùng kỳ, nhưng chưa đủ đảo chiều kết quả lũy kế.
Sự khác biệt này cho thấy cần theo dõi từng thị trường theo cả diễn biến tháng và xu hướng dài hơn. Tăng trưởng tại Hoa Kỳ tạo động lực, còn việc phục hồi các thị trường đang giảm và khai thác thêm khách hàng sẽ giúp ngành hàng có cơ cấu đầu ra cân bằng hơn.
Đáng chú ý, Việt Nam tiếp tục là nguồn cung hạt tiêu lớn nhất tại thị trường Thái Lan, đồng thời thị phần của Việt Nam trong tổng lượng hạt tiêu nhập khẩu của Thái Lan tăng từ 85,2% lên 87,1% trong 8 tháng năm 2026.
Với thị phần đã cao, cơ hội tại Thái Lan cần được nhìn nhận cả ở khả năng đáp ứng nhu cầu nhập khẩu tăng thêm và nâng giá trị cung ứng. Bên cạnh đó, khoảng cách giữa tốc độ tăng lượng và trị giá tiếp tục cho thấy mở rộng khối lượng cần đi cùng cải thiện cơ cấu sản phẩm, chất lượng và hiệu quả hợp đồng.
![]() |
| Áp lực giá đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Ảnh: Visimex. |
Áp lực giá đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Tuy nhiên, đầu tư chế biến cần gắn với nguồn nguyên liệu đáp ứng yêu cầu thị trường, bởi chất lượng đầu vào là nền tảng để doanh nghiệp duy trì sự ổn định của hàng xuất khẩu.
Việc đẩy mạnh chế biến sâu nhằm đa dạng hóa sản phẩm, nâng chất lượng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đang là yêu cầu tất yếu đặt ra với các ngành hàng xuất khẩu nói chung và với ngành hạt tiêu nói riêng. Do đó, doanh nghiệp cần tăng cường liên kết với hợp tác xã, nông dân để xây dựng nguồn nguyên liệu ổn định và đáp ứng yêu cầu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Vấn đề doanh nghiệp cần ưu tiên là tổ chức sản xuất theo yêu cầu khách hàng ngay từ vùng trồng, gắn thu mua với kiểm soát chất lượng và kế hoạch chế biến. Khi nguyên liệu được quản lý tốt, doanh nghiệp có điều kiện xây dựng các dòng sản phẩm phù hợp với từng nhóm người mua.
Việc nâng chất lượng không dừng ở kiểm tra thành phẩm, mà cần sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người trồng để hạn chế rủi ro từ đầu chuỗi. Song song với chế biến, mở rộng thị trường cần gắn với nâng năng lực đáp ứng tiêu chuẩn.
Theo thông tin từ Bộ Công Thương, Cục Xúc tiến thương mại và Tổ chức Xúc tiến thương mại Canada đã khởi động dự án hỗ trợ kỹ thuật, mở đường cho xuất khẩu xanh vào Bắc Mỹ từ tháng 6/2026. Dự án hướng tới nâng năng lực sản xuất, quản trị và xuất khẩu của doanh nghiệp, trong đó có ngành hồ tiêu. Các nội dung hỗ trợ gồm truy xuất nguồn gốc, minh bạch dữ liệu và kết nối trực tiếp với nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối tại Canada.
Những hỗ trợ này cho thấy xúc tiến thương mại cần kết hợp tìm khách hàng với chuẩn bị năng lực cung ứng. Ngoài Canada, doanh nghiệp xuất khẩu hạt tiêu có thể tiếp cận thị trường mới thuận lợi hơn khi chứng minh được chất lượng, nguồn gốc và khả năng giao hàng ổn định.
Để duy trì đà tăng trưởng, ngành hàng cần chuyển cơ hội thị trường thành giá trị bền vững thông qua nguyên liệu đạt chuẩn, chế biến phù hợp và liên kết sản xuất chặt chẽ, tạo cơ sở để nâng sức cạnh tranh và giảm sự phụ thuộc của kim ngạch xuất khẩu vào khối lượng.