![]() |
| Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tăng tốc cho quý cuối năm 2026. Ảnh: Thu Hòa |
Lợi thế từ thị trường gần
Xuất khẩu thủy sản 9 tháng năm 2026 đạt 9,103 tỷ USD, tăng 11,4%. Phía sau mức tăng 2 con số là sự khác biệt ngày càng rõ giữa các thị trường: Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc) và ASEAN tăng mạnh, trong khi Mỹ, EU và Nhật Bản cùng giảm trong tháng 9. Kết quả này cho thấy, các doanh nghiệp đã tận dụng lợi thế thị trường gần trong với chi phí logistics hợp lý.
Theo bà Lê Hằng, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong tháng 9 xuất khẩu thủy sản duy trì kim ngạch trên 1,1 tỷ USD, với tốc độ tăng cao hơn tháng 8. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu thấp hơn so với tháng trước, thể hiện các doanh nghiệp vẫn giữ được lượng giao dịch lớn vào giai đoạn cuối năm, nhưng đà tăng chưa đồng đều. Một số ngành hàng tăng khá nhanh, trong khi tôm, sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất, chỉ tăng 3,9%.
Trong đó, Trung Quốc – Hồng Kông là thị trường nổi bật nhất, với kim ngạch tháng 9 khoảng 315 triệu USD, tăng 39,9%. Lũy kế đạt 2,3 tỷ USD, tăng 33%, chiếm khoảng một phần tư xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Tính từ số liệu hiện có, phần tăng thêm của thị trường này đóng góp khoảng 62% mức tăng kim ngạch toàn ngành so với cùng kỳ.
Dù vậy, sức mua Trung Quốc cần được nhìn cùng nguồn cung nội địa và hàng nhập khẩu cạnh tranh. Việc mở lại khai thác tại Hoàng Hải – Bột Hải từ đầu tháng 9 bổ sung hải sản trong nước, còn một số cơ sở tôm Ecuador được khôi phục quyền xuất khẩu làm tăng lựa chọn cho người mua. Tăng trưởng cao của Việt Nam vì thế có thể đi cùng sức ép về giá.
Thị trường ASEAN đạt gần 84 triệu USD trong tháng 9, tăng 45,4%; lũy kế đạt 620 triệu USD, tăng 21%; Hàn Quốc cũng tăng 16,4% trong tháng, đưa kết quả 9 tháng lên 652 triệu USD, tăng 6,1%.
Vớ những thị trường xa, xuất khẩu lại giảm đáng kể, như: thị trường Mỹ giảm 3,4% trong tháng 9, còn 176 triệu USD; tổng 9 tháng đạt 1,43 tỷ USD, chỉ tăng 0,9%. Theo bà Lê Hằng, chi phí thuế bổ sung và yêu cầu MMPA, COA tiếp tục ảnh hưởng giao dịch. Nhu cầu bán lẻ cũng phân hóa: thủy sản đóng hộp tăng lượng bán, trong khi hàng tươi và đông lạnh tăng doanh thu chủ yếu nhờ giá.
Đặc biệt, thị trường EU giảm 12,8% trong tháng 9, đạt 93 triệu USD; lũy kế đạt 843 triệu USD, giảm 3%. Nhật Bản giảm 13,7% trong tháng, khiến tăng trưởng 9 tháng chỉ còn 0,8%, đạt 1,25 tỷ USD. Sự suy giảm đồng thời ở các thị trường này cho thấy tín hiệu tích cực của cá tra hoặc sản phẩm chế biến chưa đủ kéo tăng trưởng toàn bộ nhóm hàng.
Kịch bản khó cho quý cuối năm
Sau giai đoạn tăng tốc trong quý III, xuất khẩu thủy sản quý IV dự kiến giảm nhịp. Nhiều đơn hàng phục vụ tiêu dùng cuối năm đã được nhập khẩu và giao hàng sớm, nên nhu cầu mua bổ sung khó duy trì mức cao của những tháng vừa qua.
Theo phân tích của VASEP, xuất khẩu tôm tháng 9 ước đạt 467 triệu USD, đưa tổng kim ngạch 9 tháng lên 3,75 tỷ USD, tăng 11%. Với tỷ trọng khoảng 41% tổng xuất khẩu thủy sản, diễn biến của tôm tiếp tục ảnh hưởng lớn đến kết quả toàn ngành. Mức tăng thấp của tháng 9 cũng cho thấy dư địa mở rộng đơn hàng đang chịu sức ép từ cạnh tranh nguồn cung và khả năng hấp thụ của thị trường.
Thông tin được công bố tại Global Shrimp Forum trong tháng 9 cho thấy nhập khẩu tôm Trung Quốc tăng nhanh hơn tiêu thụ, còn nhập khẩu tôm nguyên liệu EU suy giảm và phân hóa giữa các khu vực. Tại Mỹ, lượng bán tôm đông lạnh trong tháng 8 giảm dù doanh thu tăng. Những diễn biến này khiến tăng trưởng xuất khẩu tôm Việt Nam chưa thể được xem là tín hiệu phục hồi đồng loạt của nhu cầu thế giới.
Cá tra có kết quả tích cực hơn trong tháng 9, đạt khoảng 214 triệu USD, tăng 18,6%; lũy kế đạt 1,74 tỷ USD, tăng 10,7%. Nguồn cung một số cá thịt trắng khai thác thắt chặt tạo thêm cơ hội cho cá tra. Tại Nhật Bản, việc Kyokuyo tiếp tục giới thiệu cá tra qua kênh phân phối chuyên nghiệp là tín hiệu đáng chú ý, dù thị trường này còn nhỏ. Lợi thế giá và nguồn cung ổn định đang giúp sản phẩm được quan tâm nhiều hơn.
![]() |
| Doanh nghiệp nước ngoài quan tâm kết nối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Ảnh: Thu Hòa |
Bà Lê Hằng cho biết, mục tiêu xuất khẩu khoảng 12 tỷ USD trong năm 2026 vẫn có thể đạt được nếu các tháng cuối năm duy trì bình quân gần 1 tỷ USD mỗi tháng. Nhưng rủi ro giảm tốc đang tăng lên, đặc biệt nếu sức mua tại Mỹ không phục hồi, thuế tôm đầu tháng 11 bất lợi hoặc chứng từ IUU và MMPA tiếp tục làm chậm giao hàng.
Doanh nghiệp xuất khẩu sang Mỹ cần tính tổng nghĩa vụ thuế theo từng mặt hàng và từng pháp nhân, không sử dụng một mức thuế bình quân cho toàn bộ kế hoạch kinh doanh. Hợp đồng nên quy định rõ trách nhiệm khi thuế thay đổi, thời điểm xác định nghĩa vụ, cơ chế điều chỉnh giá và chia sẻ chi phí phát sinh.
Với tôm, cần xây dựng ít nhất 2 kịch bản trước kết quả đầu tháng 11, đồng thời hạn chế tích trữ hàng chưa có đầu ra chắc chắn. Với cá tra, cần chuyển nhanh hơn sang EU, Trung Đông, ASEAN và các phân khúc cá thịt trắng thay thế. Đối với hải sản khai thác, hồ sơ IUU, MMPA và truy xuất nguồn gốc phải được kiểm tra ngay từ khâu mua nguyên liệu.
Trước tình hình giá nguyên liệu, thức ăn và chi phí tuân thủ đều tăng, chạy theo kim ngạch bằng cách giảm giá sẽ làm rủi ro lan từ thị trường sang tài chính doanh nghiệp. Ưu tiên của quý IV vì vậy không chỉ là có thêm đơn hàng, mà là lựa chọn đơn hàng có thể kiểm soát thuế, hồ sơ, công nợ và biên lợi nhuận.
Trung Quốc – Hồng Kông và ASEAN tiếp tục hỗ trợ xuất khẩu, nhưng khó bù đắp hoàn toàn sự chững lại tại Mỹ, EU và Nhật Bản. Kết quả quý IV nhiều khả năng thấp hơn quý III; xuất khẩu cả năm vẫn có thể vượt năm trước, song mức tăng sẽ thu hẹp đáng kể so với tốc độ tăn trường 2 con số của 9 tháng.
Để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc kết nối, chia sẻ thông tin, từ ngày 1/10/2026, Cổng Cơ hội giao thương VASEP chính thức đi vào vận hành, trở thành một kênh kết nối dành riêng cho các doanh nghiệp Hội viên VASEP, giúp hội viên chủ động chia sẻ nhu cầu, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ và tìm kiếm các cơ hội hợp tác phù hợp.