![]() |
| Doanh nghiệp thủy sản tiếp thị với đối tác nhằm mở rộng xuất khẩu. Ảnh: Thu Hòa |
Mỗi tháng xuất khẩu đạt hơn 1 tỷ USD
Tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ngày 25/9/2026, các doanh nghiệp thủy sản đã báo cáo và kiến nghị nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn về vùng nguyên liệu, tín dụng, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), phòng vệ thương mại..., qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu những tháng cuối năm.
Theo ông Đỗ Ngọc Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), thủy sản Việt Nam hiện đã xuất khẩu tới khoảng 170 thị trường và nằm trong nhóm các ngành hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11,3 tỷ USD. Trong 9 tháng năm 2026, kim ngạch đạt khoảng 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%. Bên cạnh các sản phẩm chủ lực như tôm, cá tra, cá ngừ, những mặt hàng như cá rô phi, ghẹ, nhuyễn thể có vỏ và tôm hùm đang mở thêm không gian tăng trưởng cho ngành.
Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng và nâng sức cạnh tranh, nhiều nút thắt từ đầu vào sản xuất đến thị trường cần được tháo gỡ đồng bộ cho cộng đồng doanh nghiệp.
Một trong những vấn đề được VASEP kiến nghị là đất và mặt nước phục vụ phát triển nuôi trồng thủy sản. Theo Hiệp hội, đầu tư vùng nuôi hiện đại đòi hỏi thời gian dài và nguồn vốn lớn cho hệ thống điện, thủy lợi, xử lý nước, công nghệ và truy xuất nguồn gốc. Trong khi đó, quỹ đất còn phân tán, thời hạn giao, thuê đất tại nhiều nơi chưa tương thích với nhu cầu đầu tư dài hạn.
VASEP đề nghị xem xét nâng thời hạn thuê đất phục vụ nuôi trồng thủy sản và phát triển nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu lên 40–50 năm. Đồng thời, duy trì, bổ sung quy hoạch diện tích trên bờ, trên sông và mặt biển có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản; rà soát những diện tích đã giao nhưng chưa được sử dụng hiệu quả.
Từ thực tế ngành cá tra, ông Ong Hàng Văn, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy sản Trường Giang cho biết, khó khăn hiện nay không chỉ nằm ở giá nguyên liệu mà còn ở việc thiếu quỹ đất đủ lớn và ổn định để phát triển vùng nuôi công nghiệp.
Theo ông Văn, nuôi cá tra theo hướng hiện đại cần ao lắng, hệ thống xử lý nước cấp, xử lý nước thải và tuần hoàn nước. Vì vậy, doanh nghiệp cần những vùng đất đủ lớn, liền vùng để đầu tư hạ tầng đồng bộ.
Ông Văn kiến nghị rà soát quy hoạch vùng nuôi, bổ sung diện tích phù hợp và xây dựng cơ chế thuận lợi hơn cho thuê, tích tụ đất.
Gỡ điểm nghẽn vốn, truy xuất nguồn gốc
Theo doanh nghiệp, do đặc thù phải mua nguyên liệu theo mùa vụ, dự trữ, chế biến rồi mới thu tiền từ xuất khẩu, doanh nghiệp thủy sản cần lượng vốn lưu động lớn. Tuy nhiên, việc cấp tín dụng hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào tài sản bảo đảm, khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn.
Ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Tập đoàn Thủy sản Minh Phú phản ánh khó khăn về vốn thu mua tôm nguyên liệu và đề nghị ưu tiên hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu, nông nghiệp và thủy sản.
Ông Quang cũng đề xuất tạo thuận lợi hơn cho nhập khẩu tôm nguyên liệu để tận dụng công suất chế biến; đơn giản hóa kiểm tra chuyên ngành đối với hàng xuất khẩu theo nguyên tắc quản lý rủi ro; cho phép linh hoạt hơn trong xuất khẩu ghép hàng chung container giữa các công ty thành viên và đẩy nhanh hoàn thuế giá trị gia tăng.
![]() |
| Doanh nghiệp kiến nghị gỡ vướng nguồn nguyên liệu chế biến hàng xuất khẩu. Ảnh: Thu Hòa |
Để giải quyết điểm nghẽn về vốn, các doanh nghiệp kiến nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại bố trí hạn mức phù hợp cho doanh nghiệp chế biến – xuất khẩu có đơn hàng và lịch sử tín dụng tốt. Đồng thời, mở rộng cách đánh giá tín dụng theo dòng tiền, hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng liên kết nguyên liệu và chu kỳ sản xuất – xuất khẩu.
Liên quan nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu, bà Cao Thị Kim Lan, Phó Chủ tịch Hội đồng Thành viên Công ty TNHH Thủy sản An Hải khẳng định doanh nghiệp hoàn toàn đồng tình và ủng hộ chủ trương chống khai thác IUU. Theo bà, nguồn nguyên liệu muốn giữ được các thị trường lớn phải hợp pháp và truy xuất được nguồn gốc.
Tuy nhiên, việc kiểm soát cần đúng đối tượng, đúng yêu cầu của thị trường và bảo đảm nguyên liệu hợp pháp được lưu thông bình thường trong chuỗi sản xuất.
Theo bà Lan, thực tế có trường hợp tàu đã được cơ quan chức năng kiểm tra khi cập cảng, sản lượng được giám sát và có biên nhận. Tuy nhiên, sau khi doanh nghiệp mua nguyên liệu, hồ sơ xin Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác (S/C) vẫn có thể gặp vướng mắc do vấn đề phát sinh ở khâu trước mà doanh nghiệp không có khả năng kiểm soát.
Từ thực tế này, doanh nghiệp đề nghị các thông tin hợp pháp đã được cơ quan quản lý xác nhận ở khâu trước phải có tính kế thừa ở khâu sau; không nên chuyển toàn bộ rủi ro sang doanh nghiệp đã mua nguyên liệu hợp pháp.
Một kiến nghị khác là việc kiểm soát cần bám sát yêu cầu của từng thị trường. Việt Nam cần tiếp tục chống IUU nghiêm túc, nhưng không nên áp dụng cơ học toàn bộ bộ hồ sơ của Liên minh châu Âu (EU) đối với những thị trường không có cùng yêu cầu, bởi điều này làm tăng thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp.
Về kiểm soát IUU, VASEP kiến nghị rà soát toàn bộ chuỗi từ tàu cá, cảng cá, biên nhận bốc dỡ; nâng cấp hệ thống eCDT để có cơ chế sửa sai có kiểm soát và lưu lịch sử thay đổi. Đồng thời, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể tra cứu, tiếp cận các chứng từ điện tử cần thiết phục vụ truy xuất.
Đối với nguyên liệu khai thác nhập khẩu, VASEP đề nghị có cơ chế xử lý các chênh lệch khách quan về khối lượng, cho phép xem xét dung sai kỹ thuật phù hợp; tăng quản lý rủi ro, hậu kiểm đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt, thay vì yêu cầu giám sát trực tiếp trong mọi trường hợp.
Chủ động ứng phó phòng vệ thương mại
Liên quan đến mở rộng thị trường xuất khẩu, đại diện VASEP cho rằng, Hoa Kỳ vẫn là một trong những thị trường thủy sản quan trọng của Việt Nam, nhưng cũng đang tập trung nhiều lớp chính sách về thuế, phòng vệ thương mại và yêu cầu kỹ thuật.
Để ứng phó kịp thời, VASEP kiến nghị, tăng cường phối hợp giữa Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong ứng phó phòng vệ thương mại; nghiên cứu thành lập nhóm công tác liên ngành về chính sách thương mại Hoa Kỳ, phục vụ cảnh báo sớm, chia sẻ thông tin và xây dựng phương án ứng phó thống nhất.
Hiệp hội cũng đề nghị chuẩn bị các kịch bản trung và dài hạn, vừa đa dạng hóa thị trường, vừa duy trì vị trí tại những thị trường lớn, giá trị cao như Hoa Kỳ.
Bên cạnh đó, VASEP kiến nghị tăng cường chương trình xúc tiến và bảo vệ thị trường theo từng nhóm thị trường trọng điểm. Đồng thời, phối hợp chặt hơn giữa Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Ngoại giao, hệ thống Thương vụ, hiệp hội và doanh nghiệp trong cảnh báo chính sách, tháo gỡ rào cản về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật, phòng vệ thương mại và các vấn đề ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường.