![]() |
| Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam vẫn giữ đà tăng trưởng. Ảnh: Tư liệu. |
Tăng tốc xuất khẩu, giữ đà tăng trưởng
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng năm 2026, khu vực nông, lâm, thủy sản vẫn giữ đà tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 49,3 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; lâm sản 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; thủy sản 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; nhóm đầu vào sản xuất tăng 64,8%, đạt 2,61 tỷ USD. Một số nhóm hàng tăng khá, song một số ngành hàng vẫn chịu sức ép về giá, chất lượng và thị trường.
Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 35,06 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu 14,25 tỷ USD. Đây là điểm tựa, cho thấy, ngành nông nghiệp vừa bảo đảm nguồn cung vừa tạo nguồn thu ngoại tệ.
Trong bối cảnh hàng rào kỹ thuật, yêu cầu môi trường và truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt, năng lực cạnh tranh không còn chỉ được quyết định bởi sản lượng hay giá bán. Một lô hàng đáp ứng đúng quy định mới giữ thị trường lâu dài.
Do vậy, mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 74 tỷ USD trong năm 2026 đòi hỏi cần tính toán sát từng tháng, từng ngành hàng. Theo kế hoạch, 4 tháng cuối năm cần đạt khoảng 24,9 tỷ USD, bình quân 6,23 tỷ USD mỗi tháng.
Theo ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản xuất phải bám sát kịch bản đến từng lĩnh vực, từng sản phẩm; đồng thời thường xuyên cập nhật sản lượng, giá trị, thị trường và các yếu tố tác động để điều chỉnh kịp thời.
Quan điểm này cho thấy, công tác điều hành đang chuyển từ phản ứng sang chủ động quản trị rủi ro. Bốn tháng cuối năm, yêu cầu không chỉ là có thêm hàng để xuất khẩu, mà phải bảo đảm nguồn cung ổn định, kiểm soát chất lượng và nâng giá trị sản phẩm. Nếu chạy theo sản lượng, rủi ro về chất lượng, logistics, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn nhập khẩu có thể gia tăng.
Vì vậy, tăng trưởng xuất khẩu phải được đặt trong kịch bản tổng thể, nơi sản xuất, thị trường và phòng chống thiên tai được tính toán đồng thời.
Kết quả xuất siêu là điểm tựa, cho thấy ngành nông nghiệp vừa bảo đảm nguồn cung vừa tạo nguồn thu ngoại tệ. Song, khi thị trường đặt nặng tiêu chuẩn, dư địa tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào khả năng tổ chức sản xuất theo chuẩn, thay vì chỉ mở rộng sản lượng.
Đây cũng là lúc từng ngành hàng nông, lâm, thủy sản sớm nhận diện rủi ro, cập nhật thị trường và điều chỉnh phương án phù hợp .
Nâng chuẩn để gia tăng giá trị xuất khẩu
Cùng với tăng tốc, ngành nông nghiệp phải giải bài toán nâng chuẩn để nâng giá trị xuất khẩu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu giữ tốc độ tăng trưởng GDP khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cả năm ở mức 4%.
Theo kịch bản, quý III cần đạt khoảng 4,2%, 9 tháng đạt 4,1% và quý IV khoảng 4,2%. Trong từng lĩnh vực, nông nghiệp phấn đấu tăng 3,8%; lâm nghiệp 5,2%; thủy sản 5,1%; giá trị sản xuất trồng trọt tăng khoảng 2,9%, chăn nuôi khoảng 5,0%. Theo đó, phải đồng thời bảo đảm an toàn sản xuất, nguồn nước, phòng chống thiên tai, duy trì thị trường xuất khẩu và nâng giá trị sản phẩm.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Diệp cho biết, trong 4 tháng cuối năm, Bộ sẽ tập trung phát triển sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững, mở cửa thị trường và thúc đẩy xuất khẩu.
Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Diệp, muốn tăng giá trị xuất khẩu, điểm nghẽn phải được xử lý ngay từ vùng nguyên liệu. Mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là thủ tục phục vụ xuất khẩu, mà đang trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.
Trong bối cảnh thị trường nhập khẩu nâng chuẩn, kiểm soát chất lượng cần xuyên suốt từ sản xuất, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ, với sự phối hợp giữa địa phương và doanh nghiệp. ngành tiếp tục triển khai các giải pháp gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU.
Thứ trưởng Đặng Ngọc Diệp cho rằng, đây không chỉ là nhiệm vụ của thủy sản mà còn liên quan đến uy tín nông sản Việt Nam, khi tính minh bạch và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng được coi trọng.
Ở thị trường xuất khẩu, trọng tâm là theo dõi sát từng thị trường, từng ngành hàng; tháo gỡ rào cản kỹ thuật; đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc.
Nhìn rộng hơn, bài toán cuối năm không nên chỉ đo bằng kim ngạch xuất khẩu. Điều quan trọng là duy trì sản xuất ổn định hơn, kiểm soát rủi ro và nâng chất lượng tăng trưởng. Chuyển từ sản xuất theo lợi thế sang sản xuất theo tiêu chuẩn, từ chạy theo sản lượng sang nâng giá trị. Đây cũng là hướng đi quyết định dư địa tăng trưởng xuất khẩu của ngành nông nghiệp Việt Nam trong giai trong thời gian tới.