![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Phóng viên: Thưa ông, nếu xem việc quản lý hàng hóa tân trang là cánh cửa để hàng hóa đủ điều kiện bước vào thị trường Việt Nam, dự thảo lần này đang thay đổi cách mở cánh cửa đó ra sao? Đâu là chuyển động đáng chú ý nhất về thẩm quyền quản lý và điều này có ý nghĩa gì với doanh nghiệp?
Luật sư Nguyễn Văn Chí: Theo tôi, điểm đáng chú ý là sự thay đổi cách tiếp cận trong quản lý. Từ chỗ tập trung nhiều hơn ở các bộ quản lý chuyên ngành, dự thảo đang hướng tới một mô hình phân cấp, gần doanh nghiệp hơn, đồng thời tăng ứng dụng công nghệ trong giải quyết thủ tục.
|
Cụ thể, với hàng hóa tân trang theo Nghị định số 77/2023/NĐ-CP ngày 02/11/2023 của Chính phủ về quản lý nhập khẩu hàng hóa tân trang theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), thẩm quyền cấp Giấy phép nhập khẩu được đề xuất chuyển từ các bộ quản lý chuyên ngành về UBND cấp tỉnh.
Tương tự, đối với hàng hóa tân trang theo Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA), thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện cũng được chuyển về UBND cấp tỉnh. Đây là nội dung được đặt ra để cụ thể hóa phương án phân cấp tại Với Nghị định số 66/2024/NĐ-CP ngày 17/6/2024 của Chính phủ về quản lý nhập khẩu hàng hóa tân trang theo EVFTA và UKVFTA.
Điều đáng nhấn mạnh là phân cấp không chỉ để thay đổi địa chỉ tiếp nhận hồ sơ. Ý nghĩa hơn là đưa hoạt động quản lý đến gần nơi doanh nghiệp hoạt động, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa cơ quan quản lý và đối tượng chịu sự quản lý. Khi thủ tục được thực hiện ngay tại địa phương, cùng với việc cho phép nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến, doanh nghiệp sẽ có thêm lựa chọn và tiết giảm chi phí giao dịch.
Đây là hướng đi đúng, nhất là với một lĩnh vực còn mới như hàng hóa tân trang. Tuy nhiên, nếu dữ liệu chưa được kết nối, quy trình chưa đồng bộ hoặc cách hiểu quy định giữa các địa phương khác nhau. Vì vậy, phân cấp phải đi cùng dữ liệu, quy trình rõ ràng và trách nhiệm cụ thể. Khi đó, cải cách mới thực sự biến thành lợi thế cho doanh nghiệp, thay vì chỉ là một sự thay đổi trên giấy tờ.
Phóng viên: Cùng với phân cấp, dự thảo còn cắt giảm hồ sơ và rút ngắn đáng kể thời gian xử lý. Những thay đổi này sẽ tác động trực tiếp thế nào đến doanh nghiệp nhập khẩu, thưa ông?
Luật sư Nguyễn Văn Chí: Tác động trực tiếp nhất là doanh nghiệp có thêm dư địa về thời gian và dòng tiền.
Đối với thủ tục cấp Giấy phép nhập khẩu hàng hóa tân trang, dự thảo đề xuất bỏ một thành phần hồ sơ là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ tương đương. Thời gian thẩm định hồ sơ giảm từ 7 ngày làm việc xuống 3 ngày; thời gian cấp phép giảm từ 15 ngày xuống còn 5 ngày. Doanh nghiệp cũng được lựa chọn nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng thông tin một cửa quốc gia hoặc cổng dịch vụ công của cơ quan cấp phép.
Đáng chú ý hơn, dự thảo không yêu cầu doanh nghiệp nộp thêm những tài liệu mà pháp luật chuyên ngành đã quy định đối với hàng hóa mới cùng chủng loại với hàng tân trang. Đây là điểm rất thực tế, bởi doanh nghiệp không phải đi một vòng nữa để chứng minh những thông tin cơ quan quản lý đã có hoặc có thể kiểm tra.
Với thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện là hàng hóa tân trang theo EVFTA và UKVFTA, thời gian cũng được đề xuất rút từ 7 ngày xuống 3 ngày ở khâu thẩm định và từ 15 ngày xuống 5 ngày ở khâu cấp phép.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, vài ngày đôi khi không phải con số nhỏ. Đó có thể là thời gian tàu chờ, chi phí lưu kho, lưu bãi hoặc cơ hội kinh doanh bị bỏ lỡ. Vì vậy, cải cách thủ tục ở đây không chỉ là giảm giấy tờ mà còn là giảm chi phí cơ hội.
Phóng viên: Một điểm mới khác là xử lý trường hợp hàng đã lên phương tiện vận tải nhưng mã số tân trang bị đình chỉ hoặc thu hồi. Theo ông, quy định này có ý nghĩa ra sao với doanh nghiệp?
Luật sư Nguyễn Văn Chí: Theo tôi, quy định có tính giải cứu đối với tình huống doanh nghiệp phát sinh cam kết thương mại nhưng sau đó trạng thái mã số tân trang thay đổi.
Theo dự thảo, nếu hàng hóa đã được xếp lên phương tiện vận tải trước thời điểm mã số tân trang bị đình chỉ hoặc thu hồi, doanh nghiệp có thể gửi hồ sơ đề nghị cơ quan cấp phép xem xét việc nhập khẩu lô hàng. Đặc biệt, doanh nghiệp không phải nộp lại giấy phép nhập khẩu đã được cấp trước đó; thời gian cơ quan cấp phép xem xét, trả lời cũng được rút từ 7 ngày làm việc xuống còn 5 ngày làm việc.
Cách xử lý này hợp lý hơn về mặt thương mại. Khi hàng đã lên tàu, doanh nghiệp đã phát sinh hợp đồng, thanh toán, vận chuyển và nhiều nghĩa vụ liên quan. Nếu chỉ vì một thay đổi về trạng thái mã số tân trang mà toàn bộ lô hàng bị đình chỉ hoặc thu hồi, rủi ro đối với doanh nghiệp sẽ rất lớn.
Tuy nhiên, quy định này không phải một tấm vé miễn kiểm soát, doanh nghiệp vẫn phải chứng minh hàng đã được xếp lên phương tiện vận tải trước thời điểm đình chỉ hoặc thu hồi và phải giải trình rõ lý do đề nghị nhập khẩu. Vì thế, hồ sơ vận tải, hợp đồng, chứng từ giao nhận phải được lưu giữ chặt chẽ.
Phóng viên: Dự thảo cũng cập nhật lại danh mục hàng hóa tân trang, trong đó có đề xuất lược bỏ một số mã HS thuộc nhóm thiết bị sử dụng tia X, doanh nghiệp cần lưu ý gì trước sự thay đổi này, thưa ông?
Luật sư Nguyễn Văn Chí: Đây là vấn đề doanh nghiệp không nên xem nhẹ. Với hàng tân trang, xác định đúng mã HS và đối chiếu đúng danh mục là bước đầu tiên để biết lô hàng có thuộc phạm vi điều chỉnh hay không.
Dự thảo thay thế danh mục hàng hóa tân trang thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Một số mã HS thuộc nhóm 9022.19.10, 9022.30.00, 9022.90.10, 9022.90.20 và 9022.90.90 được đề xuất lược bỏ, nhằm thống nhất với hướng sửa đổi danh mục hàng tiêu dùng, phương tiện đã qua sử dụng cấm nhập khẩu.
Nhìn rộng hơn, dự thảo cũng cập nhật danh mục theo cơ cấu quản lý mới của các bộ, đồng thời tích hợp một số danh mục để tránh chồng chéo. Đây là việc tưởng như kỹ thuật nhưng lại tác động trực tiếp đến doanh nghiệp.
Từ kinh nghiệm theo dõi hoạt động nhập khẩu, tôi cho rằng, doanh nghiệp không nên chỉ nhìn tên hàng mà cần rà soát đồng thời mã HS, xuất xứ, tình trạng tân trang, doanh nghiệp tân trang được cấp Mã số tân trang và các điều kiện chuyên ngành liên quan. Một sai lệch nhỏ trong phân loại hàng có thể kéo theo cả chuỗi vấn đề về giấy phép và thông quan.
Phóng viên: Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị gì để không bị động khi quy định mới được ban hành?
Luật sư Nguyễn Văn Chí: Khi thủ tục được rút ngắn và phân cấp về địa phương, rào cản hành chính sẽ giảm. Điều đó có thể tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp khai thác nguồn hàng tân trang từ các thị trường thành viên CPTPP, EVFTA và UKVFTA. Hàng tân trang, nếu được kiểm soát đúng chuẩn, có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận máy móc, thiết bị với chi phí hợp lý hơn, đồng thời mở thêm lựa chọn cho sản xuất và kinh doanh.
Tuy nhiên, cơ hội luôn đi cùng trách nhiệm. Doanh nghiệp cần xây dựng quy trình kiểm soát riêng cho hàng tân trang, thay vì áp dụng máy móc quy trình của hàng mới hoặc hàng đã qua sử dụng. Trước mỗi hợp đồng, cần kiểm tra kỹ đối tác tân trang, mã số tân trang, danh mục hàng, mã HS và điều kiện theo từng hiệp định.
Một việc khác rất quan trọng là chuẩn hóa dữ liệu. Khi hồ sơ được xử lý trực tuyến và dữ liệu giữa cơ quan cấp phép với hải quan được kết nối, doanh nghiệp càng phải bảo đảm thông tin giữa hợp đồng, hóa đơn, vận đơn, chứng từ tân trang và hồ sơ xin phép thống nhất.
Nhìn theo hướng tích cực, Nhà nước đang giảm những thủ tục không cần thiết, còn doanh nghiệp phải nâng năng lực tuân thủ. Theo đánh giá, các thủ tục sửa đổi đều được tính toán theo hướng có chi phí tuân thủ thấp hơn hoặc mang lại lợi ích từ việc rút ngắn thời gian xử lý; dự thảo không làm tăng số lượng thành phần hồ sơ và không kéo dài thời gian giải quyết. Đây là tín hiệu đáng chú ý, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc rất lớn vào năng lực thực thi của cơ quan cấp phép và mức độ chủ động của doanh nghiệp.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!