![]() |
| Luật Hải quan sửa đổi được kỳ vọng sẽ mang đến những quy định mới về kiểm tra sau thông quan tại cơ quan Hải quan và tại trụ sở doanh nghiệp |
Dịch chuyển mạnh sang hậu kiểm và quản lý rủi ro
Nền kinh tế mở cùng tốc độ gia tăng nhanh chóng của kim ngạch xuất nhập khẩu đặt ra yêu cầu bức thiết cho ngành Hải quan: Cần thiết lập sự cân bằng giữa yêu cầu kiểm soát tuân thủ và mục tiêu tạo thuận lợi thương mại. Phương thức “tiền kiểm” truyền thống vốn tập trung nguồn lực kiểm tra chi tiết hồ sơ và thực tế hàng hóa tại cửa khẩu ngày càng bộc lộ hạn chế khi dễ gây ùn tắc giao thương, gia tăng chi phí lưu kho bãi và tạo áp lực vận hành lớn lên lực lượng kiểm soát biên giới.
Trong bối cảnh đó, việc đẩy mạnh công tác kiểm tra sau thông quan được xác định là chìa khóa để chuyển trọng tâm quản lý sang “hậu kiểm”. Việc bổ sung nguyên tắc thực hiện kiểm tra sau thông quan trên cơ sở hiện đại hóa và áp dụng triệt để kỹ thuật quản lý rủi ro nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và cụ thể hóa các Điều 16, 17 Luật Hải quan thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy quản lý nhà nước.
Trong đó, quản trị dựa trên dữ liệu, cơ quan Hải quan khai thác hệ thống dữ liệu tích hợp và cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) để đánh giá lịch sử tuân thủ, hồ sơ tài chính và phát hiện các dấu hiệu bất thường của từng chủ thể xuất nhập khẩu.
Đồng thời, tối ưu hóa nguồn lực kiểm soát với việc những doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật được hưởng luồng thông quan nhanh; nguồn lực kiểm tra được tập trung vào các nhóm đối tượng, mặt hàng hoặc tuyến đường xuất nhập khẩu có chỉ số rủi ro cao.
Kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch thông qua việc kiểm tra đúng trọng tâm giúp kịp thời ngăn chặn các hành vi gian lận mã HS, gian lận giá, trốn thuế hay giả mạo xuất xứ, qua đó bảo vệ các doanh nghiệp kinh doanh chân chính trước sự cạnh tranh bất bình đẳng.
Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội diễn ra chiều ngày 15/7, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã trình bày tóm tắt Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan. Trọng tâm của đợt sửa đổi lần này tập trung vào công tác kiểm tra sau thông quan tại các Điều 77, 79, 80, khoản 1 Điều 81 và khoản 5 Điều 82.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, các nội dung sửa đổi toàn diện về kiểm tra sau thông quan hoàn toàn không làm phát sinh thủ tục hành chính mới hay tạo tác động về giới. Đây là bước hoàn thiện hành lang pháp lý quan trọng nhằm tối ưu hóa bộ máy quản lý, nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật và tạo động lực thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Đánh giá cao công tác chuẩn bị dự án Luật và những thành tựu cải cách của ngành Hải quan thời gian qua, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu phải thay đổi căn bản tư duy quản lý. Việc sửa Luật Hải quan lần này không chỉ để điều chỉnh quy trình nghiệp vụ đơn thuần, mà phải tạo ra bước chuyển chiến lược: từ tiền kiểm sang quản lý rủi ro, từ quản lý hồ sơ sang quản lý dữ liệu, từ quản lý hành chính sang phục vụ phát triển và quan trọng nhất là thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của doanh nghiệp.
Tinh gọn quy trình và chuẩn hóa thời hạn kiểm tra
Nhằm khắc phục những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật Hải quan năm 2014, dự thảo Luật Hải quan sửa đổi đưa ra các điều chỉnh mang tính hệ thống tại các Điều 77, 79, 80, khoản 1 Điều 81 và khoản 5 Điều 82.
![]() |
| Công chức hải quan triển khai các quy trình nghiệp vụ. Ảnh: H.Nụ |
Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi đã xóa bỏ sự phân biệt rạch ròi giữa hai thủ tục: kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan Hải quan và kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, thay thế bằng một quy trình kiểm tra sau thông quan thống nhất.
Sự điều chỉnh này cho phép cơ quan Hải quan linh hoạt chọn lựa phương thức kiểm tra tùy theo quy mô và tính chất vụ việc. Với các sai sót đơn giản, việc kiểm tra có thể thực hiện thông qua phương thức trao đổi, đối soát hồ sơ điện tử.
Chỉ những vụ việc phức tạp, có dấu hiệu vi phạm quy mô lớn mới triển khai đoàn kiểm tra trực tiếp tại trụ sở doanh nghiệp. Giải pháp này giúp tiết kiệm ngân sách nhà nước trong khâu tổ chức, đồng thời hạn chế tối đa sự gián đoạn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thể chế hóa trọn vẹn tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Một điểm cải cách quan trọng khác là dự thảo Luật Hải quan bãi bỏ thẩm quyền quyết định kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan Hải quan của đội trưởng hải quan cửa khẩu/ngoài cửa khẩu. Thẩm quyền này được tập trung về các đầu mối quản lý gồm: Cục trưởng Cục Hải quan và Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan: Ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan trong phạm vi toàn quốc; chi cục trưởng chi cục hải quan khu vực ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan trong địa bàn quản lý được phân công.
Quy định này giúp chấm dứt tình trạng kiểm tra chồng chéo giữa các cấp, bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo nghiệp vụ. Đây cũng là bước chuẩn bị pháp lý cần thiết để đáp ứng mô hình thông quan tập trung và định hướng xây dựng bộ máy kiểm tra sau thông quan tập trung ở cấp Cục Hải quan theo Quyết định số 628/QĐ-TTg ngày 20/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ.
Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi cũng quy định thời hạn kiểm tra sau thông quan và thời gian gia hạn từ “10 ngày làm việc” sang “tối đa là 20 ngày”.
Điểm điều chỉnh này phản ánh đúng thực tế quản lý: lượng dữ liệu tài chính, kế toán và hải quan của doanh nghiệp hiện nay rất lớn, quy định 20 ngày (tính theo ngày lịch) bảo đảm đủ khoảng thời gian cần thiết để đoàn kiểm tra đối soát chuyên sâu mà không bỏ sót vi phạm. Đồng thời, mốc thời gian này tạo sự đồng bộ hoàn toàn với thời hạn kiểm tra thuế tại Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.
Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi tập trung xác lập các nguyên tắc quản lý mang tính nền tảng, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục thực hiện kiểm tra sau thông quan. Kỹ thuật lập pháp này giúp khung pháp lý vừa giữ được tính ổn định, vừa bảo đảm độ linh hoạt để Chính phủ chủ động điều chỉnh các quy trình nghiệp vụ phù hợp với sự phát triển của công nghệ và thương mại xuyên biên giới.