| Hướng dẫn áp dụng thuế GTGT với sản phẩm chưa qua chế biến Áp dụng thuế giá trị gia tăng 0% với hoạt động xuất khẩu tại chỗ |
Theo đó, hoạt động khai thác khoáng sản tận thu thường phát sinh trong quá trình thi công các công trình khai khoáng, xây dựng đang đặt ra câu hỏi pháp lý về nghĩa vụ thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường (BVMT). Cụ thể, Luật Địa chất và Khoáng sản số 54/2024/QH15 ban hành ngày 29/11/2024 và Luật số 147/2025/QH15 ban hành ngày 11/12/2025 đã tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản.
Theo các luật kể trên, khoáng sản thu hồi trong quá trình thi công công trình vẫn được xem là khoáng sản khai thác nếu đáp ứng các dấu hiệu về thu hồi, sử dụng và thương mại hóa.
Tuy nhiên, việc xác định nghĩa vụ tài chính đối với hoạt động tận thu không chỉ căn cứ vào Luật Địa chất và Khoáng sản, mà còn chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật thuế Tài nguyên và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo đó, Điều 9 Luật thuế Tài nguyên và Điều 6 Nghị định số 50/2010/NĐ-CP đã quy định cụ thể các trường hợp khai thác tài nguyên không thuộc diện chịu thuế, trong đó có đất khai thác để sử dụng tại chỗ cho công trình.
Quy định này cũng được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02/10/2015 của Bộ Tài chính. Cụ thể, miễn thuế tài nguyên đối với đất do tổ chức, cá nhân được giao, được thuê khai thác và sử dụng tại chỗ trên diện tích đất được giao, được thuê; đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân sự, đê điều.
Đất khai thác và sử dụng tại chỗ được miễn thuế bao gồm cả cát, đá, sỏi có lẫn trong đất nhưng không xác định được cụ thể từng chất và được sử dụng ở dạng thô để san lấp, xây dựng công trình.
![]() |
| Cần xác định đúng nghĩa vụ tài chính đối với hoạt động khai thác khoáng sản tận thu |
Ngược lại, nếu trong quá trình thi công, doanh nghiệp phân tách riêng khoáng sản và đưa ra khỏi khu vực công trình để sử dụng hoặc bán ra thị trường thì phải kê khai và nộp thuế tài nguyên theo quy định.
Như vậy, yếu tố quyết định nghĩa vụ thuế tài nguyên không ở tên gọi “tận thu” mà nằm ở tính chất vật liệu, khả năng phân loại và mục đích sử dụng thực tế.
Bên cạnh thuế tài nguyên, theo Nghị định số 27/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 của Chính phủ, doanh nghiệp có thể phát sinh thêm phí BVMT đối với khoáng sản tận thu.
Nghị định này quy định rõ, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản, bao gồm cả khai thác tận thu theo quy định của Luật Địa chất và Khoáng sản đều thuộc đối tượng nộp phí BVMT. Mục đích của khoản phí này nhằm tạo nguồn lực để phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường, khắc phục suy thoái, ô nhiễm môi trường… tại địa phương diễn ra hoạt động khai thác.
Đáng chú ý, pháp luật không miễn hoàn toàn phí BVMT đối với khoáng sản tận thu mà chỉ áp dụng mức thu thấp hơn. Cụ thể, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 27/2023/NĐ-CP quy định mức thu phí BVMT đối với hoạt động khai thác tận thu khoáng sản theo quy định của pháp luật khoáng sản bằng 60% mức thu phí của loại khoáng sản tương ứng quy định tại Biểu khung mức thu phí ban hành kèm theo Nghị định này.
Các quy định cho thấy quan điểm xuyên suốt của chính sách miễn hoặc giảm thuế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhưng vẫn luôn phải gắn trách nhiệm với môi trường, do đó doanh nghiệp cần nắm vững quy định để tránh vướng mắc trong quá trình thực thi.
Trường hợp cụ thể được áp dụng với Công ty Tiến Anh - doanh nghiệp được UBND tỉnh Sơn La chấp thuận chuyển mục đích sử dụng đất thuê để thực hiện dự án Thủy điện Suối Lèo.
Trong quá trình thi công các hạng mục công trình của dự án, doanh nghiệp này có thu hồi một số loại khoáng sản như đá làm vật liệu xây dựng thông thường; đất đồi; đất lẫn đá, cuội, cuội sỏi và được sử dụng để thi công các hạng mục công trình thuộc dự án. Doanh nghiệp đã có văn bản đề nghị cơ quan Thuế làm rõ nghĩa vụ tài chính và được Thuế tỉnh Sơn La giải đáp dựa trên các văn bản kể trên.
Văn bản số 97/SLA-QLDN của Thuế tỉnh Sơn La đã viện dẫn các Luật, Nghị định và thông tư nêu trên và phân định rõ 2 nghĩa vụ thuế tài nguyên và phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản tận thu của doanh nghiệp; theo đó thuế tài nguyên phụ thuộc vào điều kiện miễn trừ, trong khi phí BVMT là nghĩa vụ gần như bắt buộc, chỉ khác nhau về mức thu.
Từ góc độ chính sách và thực tiễn cho thấy, doanh nghiệp cần chủ động hồ sơ kỹ thuật, chứng minh rõ đặc điểm vật liệu và mục đích sử dụng tại chỗ để làm căn cứ miễn thuế tài nguyên; đồng thời không nên hiểu khái niệm “tận thu” theo hướng không phát sinh nghĩa vụ tài chính và cần tuân thủ kê khai, nộp phí BVMT đầy đủ.
Trường hợp chưa nắm rõ các quy định của pháp luật, doanh nghiệp cần chủ động kết nối với cơ quan Thuế, tài nguyên - môi trường tại địa phương để yêu cầu giải đáp, nghiêm túc tuân thủ để giảm thiểu rủi ro pháp lý.