Thứ bảy 07/11/2026 08:42
Thời tiết: Hà Nội 24°C
Đà Nẵng 28°C
Cà Mau 28°C
Hải Phòng 27°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách
aa

Bộ Tài chính đề xuất đổi cách tính thuế tài nguyên để khuyến khích chế biến sâu

Hương Quỳnh
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi Luật thuế Tài nguyên theo hướng đổi mới phương pháp tính thuế đối với khoáng sản kim loại, chuyển từ cách tính dựa trên đầu vào sang doanh thu sản phẩm đầu ra. Đây là bước thay đổi quan trọng nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, nâng cao giá trị tài nguyên khai thác.
Bộ Tài chính đề xuất đổi cách tính thuế tài nguyên để khuyến khích chế biến sâu
Thời gian qua, cơ quan Thuế đã triển khai hiệu quả nhiều giải pháp quản lý thuế, trong đó có thuế tài nguyên.

Năm 2025 thu hơn 40.700 tỷ đồng, nhưng dư địa điều tiết đã dần thu hẹp

Sau hơn 15 năm triển khai, Bộ Tài chính đánh giá Luật thuế Tài nguyên đã cơ bản phát huy vai trò là công cụ tài chính trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Chính sách vừa góp phần nâng cao nhận thức về sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả vừa tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước.

Số liệu của cơ quan Thuế cho thấy, giai đoạn 2011-2020, thuế tài nguyên bình quân đạt khoảng 39.500 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 3,82% tổng thu ngân sách nhà nước.

Sang giai đoạn 2021-2024, số thu bình quân tăng lên khoảng 39.987 tỷ đồng/năm, mặc dù tỷ trọng trong tổng thu ngân sách giảm xuống còn khoảng 2,22%.

Riêng năm 2025, số thu thuế tài nguyên ước đạt 40.777 tỷ đồng, trong đó thu từ dầu thô chiếm khoảng 30,82%, còn các loại tài nguyên khác chiếm 69,18% tổng số thu thuế tài nguyên.

Đối với lĩnh vực khoáng sản, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng số tiền các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản nộp ngân sách trong năm 2025 đạt khoảng 30.000 tỷ đồng, bao gồm thuế tài nguyên, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, phí bảo vệ môi trường, thuế xuất khẩu và các khoản thu khác.

Trong đó, riêng thuế tài nguyên chiếm khoảng 62%. Điều này phản ánh vai trò quan trọng của sắc thuế này trong cơ cấu các khoản thu từ hoạt động khai thác khoáng sản.

Tuy nhiên, trong bối cảnh yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng từ tài nguyên ngày càng lớn, dư địa điều tiết của chính sách thuế hiện hành bộc lộ nhiều hạn chế.

Một trong những vấn đề lớn nhất của chính sách hiện hành nằm ở phương pháp tính thuế. Theo Bộ Tài chính, Luật hiện hành chủ yếu xác định thuế dựa trên đầu vào của quá trình chế biến, tức đánh thuế đối với quặng nguyên khai, đồng thời áp dụng mức thuế suất cố định theo từng nhóm khoáng sản. Thế nhưng lại chưa có cơ chế điều tiết theo mức độ chế biến để phân biệt giữa khoáng sản nguyên khai và sản phẩm đã qua chế biến sâu.

Việc quy đổi sản lượng tính thuế từ sản phẩm sau chế biến về sản lượng khoáng sản đầu vào thông qua định mức sử dụng tài nguyên còn mang tính cào bằng, khó bóc tách chính xác giá trị gia tăng do công nghệ mang lại.

Về mức thuế, thuế suất lại không thay đổi theo mức độ chế biến, khiến doanh nghiệp đầu tư dây chuyền hiện đại cũng chưa có lợi thế đáng kể về nghĩa vụ thuế so với doanh nghiệp chỉ khai thác hoặc sơ chế khoáng sản.

Đây là một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn phương án khai thác thô hoặc chỉ chế biến ở mức độ nhất định để nhanh thu hồi vốn, thay vì đầu tư các dự án chế biến sâu có chi phí lớn và rủi ro cao.

Theo Bộ Tài chính, đây cũng là một trong những lý do cần nghiên cứu đổi mới phương pháp thuế nhằm tạo động lực mạnh hơn cho hoạt động chế biến sâu.

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách thuế đối với một số loại khoáng sản nhằm khuyến khích đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại phục vụ khai thác, chế biến.

Mặt khác, nhiều quy định của Luật thuế Tài nguyên cũng không còn đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành khi Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024, Luật Hải quan và Luật Điện lực đã có những thay đổi về cách tiếp cận và thuật ngữ pháp lý. Điều này đòi hỏi Luật Thuế tài nguyên phải được sửa đổi để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đổi cách tính thuế để khuyến khích đầu tư công nghệ, chế biến sâu

Để hiện thực hóa định hướng khuyến khích chế biến sâu khoáng sản, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung 4 trong tổng số 11 điều của Luật thuế Tài nguyên và bổ sung Điều 7a quy định về xác định thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại.

riêng thuế tài nguyên chiếm khoảng 62%. Điều này phản ánh vai trò quan trọng của sắc thuế này trong cơ cấu các khoản thu từ hoạt động khai thác khoáng sản.
Thuế tài nguyên chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu các khoản thu từ hoạt động khai thác khoáng sản. Ảnh: TL.

Các nội dung sửa đổi tập trung vào căn cứ tính thuế, sản lượng tính thuế, giá tính thuế và thuế suất, hướng tới đổi mới phương pháp tính thuế theo mức độ chế biến, đồng thời bảo đảm thống nhất với pháp luật chuyên ngành.

Theo đó, dự thảo đề xuất bổ sung Điều 7a theo hướng chuyển đổi sang phương pháp tính thuế đối với khoáng sản kim loại dựa trên sản phẩm đầu ra (doanh thu của từng loại khoáng sản thương phẩm thuộc đối tượng chịu thuế) kết hợp với biểu thuế suất lũy tiến, lũy thoái theo cấp độ chế biến.

Cụ thể, doanh thu bán từng sản phẩm x thuế suất lũy thoái theo mức độ chế biến. Theo cách tiếp cận này, sản phẩm có mức độ chế biến càng sâu sẽ được áp dụng mức thuế suất thấp hơn, qua đó tạo động lực đầu tư công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng của khoáng sản.

Việc thay đổi phương pháp luận tính thuế theo doanh thu đầu ra cho phép hệ thống quản lý thuế nhận diện rõ ràng, minh bạch từng loại sản phẩm và phân định chính xác các cấp độ chế biến sâu trong chuỗi giá trị.

Nhà nước sẽ có đủ dư địa và không gian chính sách để hiện thực hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 10-NQ/TW thông qua việc sử dụng công cụ thuế suất làm đòn bẩy kinh tế: sản phẩm khoáng sản càng được ứng dụng công nghệ cao để chế biến sâu, tinh khiết thì thuế suất áp dụng càng thấp.

Việc đổi mới phương pháp tính thuế dựa trên doanh thu đầu ra còn loại bỏ hoàn toàn các thủ tục quy đổi phức tạp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến hiện đại, góp phần tạo sự minh bạch, giảm chi phí tuân thủ.

Đối với cách xác định doanh thu tính thuế, dự thảo đề xuất doanh thu tính thuế tài nguyên được xác định theo toàn bộ tiền bán hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, không phân biệt đã thu tiền hay chưa và không thấp hơn mức tính theo giá do UBND cấp tỉnh quy định.

Đối với một số trường hợp đặc thù như hàng hóa không thuộc đối tượng chịu thuế, giao dịch liên kết hoặc doanh thu thực tế thấp hơn mức quy định, doanh thu tính thuế sẽ được xác định theo sản lượng hàng hóa (hoặc quặng tinh sử dụng để chế biến) nhân với giá tính thuế do UBND cấp tỉnh ban hành.

Dự thảo cũng đề xuất thuế suất thực hiện theo quy định của Chính phủ. Trường hợp hàng hóa bán ra chứa nhiều loại khoáng sản khác nhau thì áp dụng thuế suất của loại khoáng sản có mức cao nhất.

Thời điểm xác định thuế tài nguyên là thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng…

Dự thảo cũng đề xuất tại điểm a khoản 3 Điều 6 thay cụm từ “giá bán điện thương phẩm bình quân” bằng “giá bán lẻ điện bình quân” theo Luật Điện lực; đồng thời quy định giá tính thuế đối với tài nguyên xuất khẩu được xác định theo trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu, để thống nhất với Luật Hải quan.

Một vấn đề khác cũng được đề xuất đó là mở rộng cơ sở pháp lý để UBND cấp tỉnh ban hành bảng giá tính thuế đối với các loại tài nguyên phát sinh trên địa bàn, thay vì chỉ áp dụng đối với trường hợp chưa xác định được giá bán như quy định hiện hành.

Các nội dung sửa đổi không chỉ nhằm khắc phục những bất cập trong quá trình thực thi Luật thuế Tài nguyên mà còn hướng tới sử dụng công cụ thuế để khuyến khích chế biến sâu, nâng cao giá trị tài nguyên khai thác và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp chế xuất: Đề xuất chính sách thuế khi vi phạm giám sát

Doanh nghiệp chế xuất: Đề xuất chính sách thuế khi vi phạm giám sát

Doanh nghiệp chế xuất không khắc phục điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan trong tối đa 30 ngày sẽ không được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan. Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 38/2015/TT-BTC, Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Thông tư số 121/2025/TT-BTC (gọi tắt là dự thảo Thông tư) làm rõ yêu cầu chứng minh nguồn gốc, mục đích sử dụng và tình trạng quản lý hàng hóa để xác định nghĩa vụ thuế khi vi phạm.
AJCEP đổi quy tắc, doanh nghiệp cần tính lại xuất xứ

AJCEP đổi quy tắc, doanh nghiệp cần tính lại xuất xứ

Từ ngày 15/2/2027, Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR) trong Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) dự kiến chuyển từ mã hóa hàng hóa năm 2017 (HS 2017) sang HS 2022. Thay đổi này tác động trực tiếp đến việc xác định xuất xứ hàng hóa, cấp và sử dụng chứng nhận xuất xứ (C/O), đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản sớm rà soát danh mục hàng hóa, nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất để bảo đảm khả năng tiếp tục hưởng ưu đãi thuế quan.
Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Bộ Tài chính vừa công khai lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp cho người nộp thuế trạng thái 03, 06. Các chuyên gia cho rằng, chính sách này góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm và hỗ trợ làm sạch dữ liệu trong quản lý thuế.
Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận. Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2026–2030 đặt ra định hướng là chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra truyền thống sang kiểm tra trên nền tảng công nghệ số, khai thác dữ liệu tập trung và quản lý rủi ro.
Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Cục Thuế vừa có Công văn số 7943/CT-QLNT hướng dẫn về chính sách thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, chế biến quặng chì, kẽm của Chi nhánh Công ty TNHH TMDV Hoàng Nam tại tỉnh Thái Nguyên. Trong đó, cơ quan thuế lưu ý việc xác định sản lượng và giá tính thuế phải căn cứ vào đặc điểm tài nguyên khai thác, quy trình chế biến và thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, các đề xuất của Bộ Tài chính nếu được thực hiện không chỉ góp phần tháo gỡ gánh nặng tài chính, mà còn tạo động lực xử lý mã số thuế tồn đọng, mở ra cơ hội cho người nộp thuế trở lại thị trường.
Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên mức thanh toán không dùng tiền mặt khi xác định chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 5 triệu đồng lên nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và phù hợp với chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt.
Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Cục Thuế vừa ban hành Công văn số 7978/CT-NVT yêu cầu Thuế các tỉnh, thành phố chấn chỉnh tình trạng tiếp nhận, xử lý hồ sơ chưa thống nhất, đồng thời hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm.
Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Từ thực tiễn triển khai Chiến dịch làm sạch mã số thuế, đến các cơ chế đặc thù giải quyết các vướng mắc đang được Bộ Tài chính đề xuất đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện phương thức quản lý theo vòng đời người nộp thuế, nâng cao tính minh bạch của dữ liệu và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đáng tin cậy hơn.
Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Nhiều ý kiến góp ý từ các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và tư vấn thuế đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính trong đề xuất cơ chế đặc thù tháo gỡ những tồn đọng về mã số thuế. Các ý kiến cho rằng, các đề xuất này không chỉ góp phần giảm gánh nặng tuân thủ, cải thiện môi trường kinh doanh mà còn nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Máy móc miễn thuế quá 10 năm được đề xuất hai phương án xử lý

Máy móc miễn thuế quá 10 năm được đề xuất hai phương án xử lý

Đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu miễn thuế đã quá 10 năm, khấu hao hết giá trị và không còn sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 38/2015/TT-BTC, Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Thông tư số 121/2025/TT-BTC (gọi tắt là dự thảo Thông tư) đưa ra hai phương án xử lý khi doanh nghiệp thay đổi mục đích sử dụng. Điểm khác biệt nằm ở thủ tục khai báo và cơ quan tiếp nhận nghĩa vụ thuế, là nội dung doanh nghiệp cần lưu ý khi rà soát, xử lý tài sản.
Khi người tiêu dùng trở thành mắt xích chống thất thu thuế

Khi người tiêu dùng trở thành mắt xích chống thất thu thuế

Từ thói quen không lấy hóa đơn trong những giao dịch thường ngày, người tiêu dùng có thể vô tình tạo nguy cơ thất thu thuế. Khuyến khích người mua lấy hóa đơn khi mua hàng hoá dịch vụ không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi mà còn tạo thêm kênh giám sát hoạt động kinh doanh, hạn chế thất thu ngân sách. Khi mỗi người mua chủ động ghi nhận giao dịch, minh bạch thị trường không còn là trách nhiệm riêng của cơ quan quản lý và người bán.
Sản phẩm tái chế xuất khẩu có được miễn thuế?

Sản phẩm tái chế xuất khẩu có được miễn thuế?

Tiêu chí xác định sản phẩm được miễn thuế xuất khẩu có sự thay đổi từ ngày 6/1/2025, doanh nghiệp cần căn cứ quy định áp dụng tại từng thời kỳ.
Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực về chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chính sách hỗ trợ về thuế tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Đặc biệt, chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026 và 2027 được kỳ vọng góp phần giảm áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền, tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Trước những vướng mắc kéo dài trong quá trình xử lý người nộp thuế trạng thái 03, 06, Bộ Tài chính đã xây dựng hai dự thảo Nghị quyết thuộc thẩm quyền Quốc hội và Chính phủ. Các đề xuất tập trung xử lý nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp, nghĩa vụ hồ sơ khai thuế và giảm mức phạt đối với một số hành vi chậm nộp hồ sơ, nhằm tạo điều kiện để người nộp thuế hoàn tất thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
quy-dinh-ve-dang-bai-gioi-thieu-cong-bo-ket-qua-nghien-cuu-tren-tap-chi-kinh-te-tai-chinh
vietnam-post-avinh-13-10-13-11
toan-phat-group-2026
cty-cp-dai-phuc
acca-dung-24-10-30-11
tap-doan-than-khoang-san
agribank
phan-mem-ecus5
thong-bao
cong-ty-tnhh-thuong-mai-va-dich-vu-eco-patuo-viet-nam
qc-demo-3
qc-demo-4
qc-demo