![]() |
| Việc tháo gỡ các vướng mắc kéo dài sẽ tạo điều kiện để những người từng kinh doanh không thành công có thể chấm dứt tình trạng pháp lý tồn đọng và có cơ hội tái gia nhập thị trường. Ảnh: Quỳnh Hương. |
Tham gia góp ý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội và dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá cao sự chủ động, quyết liệt và nỗ lực của Bộ Tài chính trong việc khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, đề xuất ban hành hai Nghị quyết.
Theo VCCI, trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, việc Bộ Tài chính chủ động đề xuất cơ chế đặc thù nhằm giải quyết những tồn đọng kéo dài trong quản lý thuế có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng.
Dự thảo của Bộ Tài chính cho thấy, cả nước có khoảng hơn 2,5 triệu người nộp thuế đang ở trạng thái 03 (ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế) và trạng thái 06 (không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký).
Đi cùng số lượng mã số thuế tồn đọng là khoản nợ thuế 27.805 tỷ đồng, gồm 18.090 tỷ đồng tiền thuế nợ gốc và 9.715 tỷ đồng tiền chậm nộp. Ngoài ra, số nợ lệ phí môn bài đã hạch toán là 1.450 tỷ đồng, trong khi khoản nợ môn bài tiềm tàng chưa hạch toán của các chủ thể không còn hoạt động được ước tính hơn 15.000 tỷ đồng.
“Bộ Tài chính đã nhận diện trực diện quy mô của vấn đề, đồng thời đặt ra yêu cầu phải có giải pháp đủ mạnh để xử lý những tồn đọng kéo dài nhiều năm”, văn bản góp ý của VCCI đánh giá.
Đáng chú ý, VCCI nhận định việc ban hành các Nghị quyết đặc thù theo đề xuất của Bộ Tài chính có thể mang lại “lợi ích kép” cho nền kinh tế Việt Nam.
Trước hết, đối với môi trường kinh doanh trong nước, cơ chế đặc thù sẽ góp phần giải tỏa áp lực pháp lý, tài chính cho người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất các nghĩa vụ liên quan.
Việc tháo gỡ các vướng mắc kéo dài sẽ tạo điều kiện để những người từng kinh doanh không thành công có thể hoàn thành trách nhiệm theo quy định, chấm dứt tình trạng pháp lý tồn đọng và có cơ hội tái gia nhập thị trường, tiếp tục khởi nghiệp.
Dẫn lại số liệu từ hồ sơ dự thảo của Bộ Tài chính, VCCI cho rằng, việc tháo gỡ nghĩa vụ kê khai đối với các kỳ không phát sinh hoạt động có thể giúp tiết kiệm khoảng 3.255,7 tỷ đồng chi phí tuân thủ, tương ứng chi phí lập và nộp khoảng 23,38 triệu lượt tờ khai không phát sinh doanh thu.
Đây là khoản chi phí đáng kể, nhất là đối với những doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã ngừng hoạt động từ lâu nhưng vẫn phải thực hiện các thủ tục kê khai, hoàn thiện hồ sơ để chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Ở phương diện quốc tế, đề xuất còn góp phần đáp ứng yêu cầu về minh bạch và trao đổi thông tin phục vụ mục đích thuế theo các chuẩn mực của Diễn đàn Toàn cầu về Minh bạch và Trao đổi thông tin vì mục đích thuế và khuyến nghị của Liên minh châu Âu.
Trong đó, đáng chú ý là yêu cầu về sự sẵn có của thông tin quyền sở hữu thực tế và hồ sơ kế toán đáng tin cậy phục vụ trao đổi thông tin theo yêu cầu.
Đại diện cộng đồng doanh nghiệp khẳng định, việc nâng cao chất lượng và độ tin cậy của dữ liệu người nộp thuế không chỉ góp phần thực hiện các cam kết quốc tế mà còn nâng cao mức độ tín nhiệm, sức cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam.
Cùng đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính, Hội Tư vấn thuế Việt Nam (VTCA) ghi nhận và trân trọng những giải pháp đặc thù được đề xuất với Quốc hội, Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06 đã tồn đọng nhiều năm.
Với vai trò là cầu nối giữa cơ quan thuế và người nộp thuế, VTCA cho rằng việc tháo gỡ này không chỉ nhằm làm sạch dữ liệu mã số thuế mà còn góp phần trả lại cho cộng đồng người nộp thuế một môi trường kinh doanh minh bạch, đáng tin cậy.
Theo VTCA, chính sách sẽ tạo điều kiện để những trường hợp đang vướng mắc có cơ hội giải quyết các nghĩa vụ còn tồn đọng, khắc phục những vấn đề phát sinh trước đây và yên tâm tiếp tục hoạt động kinh doanh.
Như vậy, từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp và tổ chức tư vấn thuế, đề xuất của Bộ Tài chính không đơn thuần là giải pháp xử lý dữ liệu quản lý thuế mà còn hướng tới tháo gỡ những rào cản đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và khả năng tái gia nhập thị trường của người nộp thuế.
Bên cạnh việc đánh giá cao những giải pháp mà Bộ Tài chính đề xuất, VCCI và VTCA cũng đưa ra nhiều kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế đặc thù, bảo đảm chính sách giải quyết thực chất những khó khăn của người nộp thuế.
![]() |
| Thuế tỉnh Phú Thọ công khai thủ tục hành chính thuế tại trụ sở. Ảnh: Thu Hiền. |
Một trong những nội dung được cả hai tổ chức quan tâm là thời hạn xử lý mã số thuế tồn đọng. Theo dự thảo Nghị quyết của Chính phủ, đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ đủ 10 năm trở lên và không có nợ thuế, cơ quan Thuế thực hiện công khai danh sách trong 30 ngày để chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
VCCI kiến nghị rút ngắn thời hạn này xuống còn 5 năm, tính đến ngày Nghị quyết có hiệu lực, đối với người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06 không còn nợ thuế. VTCA cũng đề nghị xem xét áp dụng ngưỡng thời gian 5 năm để phù hợp hơn với thực tế.
Đồng thời, VCCI kiến nghị đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã nộp hồ sơ giải thể hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh quá 12 tháng, không còn nợ thuế và không có khiếu nại, cơ quan thuế được áp dụng ngay quy trình công khai thông tin để chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Liên quan đến nghĩa vụ kê khai, VCCI đánh giá cao đề xuất bãi bỏ nghĩa vụ nộp hồ sơ khai thuế và báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đối với các kỳ tính thuế phát sinh kể từ ngày cơ quan Thuế thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đăng ký hoặc ngày cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận.
Tuy nhiên, cần tiếp tục tháo gỡ khoảng thời gian giữa thời điểm người nộp thuế thực tế ngừng kinh doanh và thời điểm cơ quan quản lý ban hành thông báo.
Trong thực tế, một doanh nghiệp có thể đã đóng cửa, trả mặt bằng, không còn doanh thu nhưng phải một thời gian sau mới được cơ quan thuế xác nhận không hoạt động tại địa chỉ đăng ký.
Nếu chỉ miễn nghĩa vụ kê khai từ ngày có thông báo, những kỳ tính thuế trước đó vẫn có thể phát sinh nghĩa vụ nộp hồ sơ và tiền phạt chậm nộp, dù hoạt động kinh doanh thực tế đã chấm dứt.
Do vậy, VCCI kiến nghị cho phép xác định thời điểm ngừng hoạt động thực tế căn cứ vào dữ liệu hóa đơn điện tử, xác nhận của chính quyền địa phương hoặc kết quả xác minh của cơ quan thuế, thay vì chỉ phụ thuộc vào thời điểm ban hành thông báo.
Ở góc độ nghiệp vụ, VTCA đề nghị cho phép người nộp thuế gộp các kỳ tính thuế không phát sinh doanh thu để nộp một tờ khai cho từng sắc thuế, đồng thời phải cam kết về việc không phát sinh doanh thu trong các kỳ đó.
Đối với những trường hợp đã ngừng hoạt động, không còn hồ sơ kế toán nhưng thực tế có phát sinh doanh thu, VTCA kiến nghị cơ quan thuế thực hiện ấn định thuế theo quy định, căn cứ dữ liệu hóa đơn điện tử đầu ra, đầu vào, thông tin giao dịch ngân hàng và các tài liệu liên quan.
Giải pháp này có thể giúp người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ để chấm dứt hiệu lực mã số thuế, đồng thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin, số liệu cung cấp.
Đối với lệ phí môn bài, VTCA đề nghị chỉ xóa nợ và tiền chậm nộp tương ứng với thời gian người nộp thuế đã ngừng hoạt động, cũng như trường hợp đang hoạt động nhưng không phát sinh doanh thu trong năm tính thuế.
Riêng trường hợp người nộp thuế vẫn hoạt động, có doanh thu và còn nợ lệ phí môn bài, cân nhắc phương án chỉ xóa tiền chậm nộp phát sinh từ ngày 1/1/2026, thời điểm chính sách thu lệ phí môn bài được bãi bỏ, nhằm bảo đảm bình đẳng với những người nộp thuế khác.
VTCA cũng đề nghị bổ sung cơ chế xử lý tiền chậm nộp đối với các khoản nợ thuế gốc nhỏ thuộc diện được xóa, với ngưỡng 2 triệu đồng đối với doanh nghiệp và 1 triệu đồng đối với cá nhân. Đồng thời, việc xác định người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ nợ gốc cần căn cứ vào cơ sở dữ liệu quản lý thuế.
Trong khi đó, VCCI kiến nghị bổ sung cơ chế xử lý khoản tiền thuế nộp thừa không quá 10 triệu đồng. Nếu người nộp thuế tự nguyện có văn bản từ bỏ quyền nhận lại khoản tiền này, cơ quan Thuế được thực hiện tất toán để hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Theo đánh giá, các đề xuất nếu được ban hành sẽ góp phần giảm chi phí tuân thủ, xử lý những hồ sơ kéo dài nhiều năm và nâng cao chất lượng dữ liệu quản lý thuế.