![]() |
| Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam (VTCA). Ảnh: Trần Ánh. |
Phóng viên: Bà đánh giá thế nào về sự chủ động của Bộ Tài chính trong tháo gỡ vướng mắc về thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế?
Bà Nguyễn Thị Cúc: Trước hết, tôi đánh giá cao sự chủ động, tích cực của Bộ Tài chính trong việc nhận diện những bất cập từ thực tiễn và kịp thời nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách để tháo gỡ.
Chúng ta thường nói nhiều đến cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thông qua đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp thành lập mới và mở rộng hoạt động.
Tuy nhiên, một môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia nhập mà còn phải bảo đảm để doanh nghiệp có thể rút khỏi thị trường minh bạch, đúng pháp luật khi không còn khả năng tiếp tục hoạt động.
Qua thực tế tư vấn, chúng tôi ghi nhận những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm, không phát sinh doanh thu, thậm chí không còn nợ thuế gốc nhưng vẫn chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Trong khi đó, các khoản lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và xử phạt vi phạm hành chính có thể trở thành gánh nặng lên tới hàng chục triệu đồng, khiến việc hoàn tất thủ tục càng khó khăn.
Nếu không có cơ chế tháo gỡ phù hợp, doanh nghiệp tiếp tục tồn tại trên hệ thống quản lý dù thực tế đã rời khỏi thị trường. Điều này vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp, vừa làm gia tăng hồ sơ tồn đọng và chi phí quản lý của cơ quan Thuế.
Vì vậy, việc Bộ Tài chính chủ động rà soát, đề xuất chính sách đặc thù cho thấy cách tiếp cận quản lý đang hướng nhiều hơn đến thực tiễn hoạt động của người nộp thuế.
Theo tôi, ý nghĩa của các đề xuất không chỉ nằm ở việc xử lý số lượng lớn mã số thuế tồn đọng, mà còn tháo gỡ những rào cản đối với quá trình rút khỏi thị trường của doanh nghiệp. Khi thủ tục được thực hiện thuận lợi, minh bạch, với chi phí tuân thủ hợp lý, môi trường kinh doanh sẽ thông thoáng hơn.
Phóng viên: Các đề xuất xử lý nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và giảm mức phạt có nhiều điểm tương đồng với kiến nghị của VTCA. Bà đánh giá thế nào về sự lắng nghe, tiếp thu ý kiến từ thực tiễn của Bộ Tài chính?
Bà Nguyễn Thị Cúc: Trong quá trình hoạt động, VTCA đã tiếp nhận nhiều phản ánh của doanh nghiệp, đại lý thuế và những người trực tiếp thực hiện thủ tục thuế.
Thực tế có những quy định phù hợp với doanh nghiệp đang hoạt động bình thường nhưng khi áp dụng đối với doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trong thời gian dài lại phát sinh bất cập.
VTCA đã kiến nghị nghiên cứu không truy thu lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và không xử phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế đối với doanh nghiệp thực sự không hoạt động, không phát sinh doanh thu, chi phí và không nợ thuế; đồng thời xem xét trách nhiệm đối với hành vi không thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Đối với khoản thuế gốc còn nợ, quan điểm của chúng tôi là phải phân loại, xác định rõ nghĩa vụ để thu đúng, thu đủ theo quy định. Tháo gỡ khó khăn không đồng nghĩa với xóa bỏ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế.
Tôi đánh giá cao việc Bộ Tài chính đã nghiên cứu, đề xuất những giải pháp cụ thể. Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội đề xuất xử lý nợ lệ phí môn bài và tiền chậm nộp lệ phí môn bài phát sinh đến hết ngày 31/12/2025 đối với những trường hợp đáp ứng điều kiện.
Trong khi đó, dự thảo Nghị quyết của Chính phủ đề xuất giảm mức phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế theo lộ trình. Người nộp thuế đủ điều kiện chỉ phải chịu 30% mức phạt thông thường trong giai đoạn đầu; các giai đoạn tiếp theo lần lượt là 50% và 70%.
Việc đề xuất giảm mức phạt theo lộ trình là hướng xử lý tích cực, vừa giảm gánh nặng tài chính, vừa khuyến khích người nộp thuế sớm hoàn thiện hồ sơ.
Tuy nhiên, với doanh nghiệp thực sự không hoạt động, không phát sinh nghĩa vụ thuế và không có hành vi gian lận, cần tiếp tục nghiên cứu mức độ xử lý phù hợp với bản chất vi phạm.
Việc các đề xuất có nhiều điểm tương đồng với kiến nghị của VTCA cho thấy những phản ánh từ thực tiễn đã được quan tâm, nghiên cứu. Đây là tín hiệu tích cực về sự lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức nghề nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách.
Phóng viên: Bộ Tài chính đề xuất cơ chế xử lý người nộp thuế ở trạng thái 03, 06 từ đủ 10 năm trở lên. Theo bà, làm thế nào để tháo gỡ đúng đối tượng, tránh bị lợi dụng?
Bà Nguyễn Thị Cúc: Nghiên cứu cơ chế xử lý đối với những trường hợp đã ngừng hoạt động trong thời gian dài là cần thiết.
Theo thống kê của ngành Thuế, hiện có hơn 753.000 người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06 kéo dài trên 10 năm, chiếm khoảng 25% tổng số người nộp thuế ở hai trạng thái này. Trong đó, có khoảng 287.000 doanh nghiệp, tổ chức; đáng chú ý, hơn 172.000 trường hợp không có nợ thuế, chiếm khoảng 60% số doanh nghiệp, tổ chức thuộc nhóm tồn đọng trên 10 năm.
![]() |
| Việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế không đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm trước đó. Ảnh: Nga Phạm. |
Về cơ sở pháp lý, điểm c khoản 1 Điều 21 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 quy định việc xóa tiền thuế nợ đối với trường hợp đã áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định, khoản nợ quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp nhưng không có khả năng thu hồi.
Bên cạnh đó, khoản 8 Điều 44 của Luật quy định về nghĩa vụ nộp thuế sau khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế, trong đó xác định phạm vi thời gian 10 năm trở về trước kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm, trừ trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế.
Đặc biệt, dự thảo đề xuất chỉ xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với những trường hợp đáp ứng điều kiện không có nợ thuế, không thuộc diện đang bị thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử; đồng thời thực hiện công khai thông tin trong thời hạn 30 ngày trước khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Theo tôi, cách tiếp cận này có cơ sở để xem xét, vừa tạo điều kiện xử lý những trường hợp tồn đọng kéo dài, vừa bảo đảm sự thận trọng, tránh ảnh hưởng đến những nghĩa vụ thuế và trách nhiệm pháp lý đã phát sinh.
Tuy nhiên, không thể chỉ căn cứ vào thời gian tồn đọng mà phải xác định bản chất từng trường hợp. Cần phân biệt doanh nghiệp thực sự ngừng hoạt động vì khó khăn, thua lỗ, không có hành vi gian lận với những trường hợp cố tình bỏ địa chỉ kinh doanh, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc trốn tránh nghĩa vụ thuế.
Việc phân loại phải dựa trên dữ liệu quản lý thuế, lịch sử kê khai, tình trạng sử dụng hóa đơn và nghĩa vụ tài chính. Những trường hợp không có dấu hiệu gian lận cần được tạo điều kiện hoàn tất thủ tục; ngược lại, hành vi vi phạm phải được kiểm tra, xử lý nghiêm.
Đặc biệt, chấm dứt hiệu lực mã số thuế không đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm trước đó.
Phóng viên: Theo bà, chính sách khi ban hành thực sự đi vào cuộc sống, cơ quan quản lý cần hoàn thiện các vấn đề nào?
Bà Nguyễn Thị Cúc: Điều quan trọng là xây dựng quy trình thực hiện rõ ràng, thống nhất và phù hợp với từng nhóm người nộp thuế.
Với doanh nghiệp không còn nợ thuế, không phát sinh hoạt động và không có rủi ro về hóa đơn, cần đơn giản hóa thủ tục. Ngược lại, doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính nhưng không có dấu hiệu gian lận phải được hướng dẫn cụ thể cách hoàn thành nghĩa vụ. Với những trường hợp có rủi ro cao cần áp dụng quy trình kiểm tra, xác minh phù hợp.
Thời gian qua, ngành Thuế đã chủ động gửi thông báo, hướng dẫn người nộp thuế liên hệ với cơ quan thuế cơ sở và cán bộ xử lý hồ sơ trong chiến dịch làm sạch mã số thuế. Tuy nhiên, cần tiếp tục chi tiết hóa quy trình để doanh nghiệp thực hiện thuận lợi hơn.
Đồng thời, cần tăng cường kết nối dữ liệu giữa cơ quan Thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan liên quan, tránh yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại thông tin mà cơ quan nhà nước đã có; phát huy vai trò của đại lý thuế, tổ chức tư vấn thuế trong hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ.
Về lâu dài, quản lý thuế phải dựa trên mức độ rủi ro và tình trạng thực tế của người nộp thuế. Không thể áp dụng cùng một cách xử lý đối với doanh nghiệp chấp hành tốt, doanh nghiệp gặp khó khăn phải ngừng hoạt động và doanh nghiệp có dấu hiệu gian lận.
Tôi kỳ vọng các cơ chế đặc thù đang được Bộ Tài chính đề xuất không chỉ giải quyết hồ sơ tồn đọng trước mắt mà còn góp phần hoàn thiện quản lý thuế theo vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp rút khỏi thị trường đúng pháp luật với chi phí tuân thủ hợp lý.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn bà!