![]() |
| Đề xuất cơ chế cho phép người nộp thuế cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật phù hợp với thực tế nhiều doanh nghiệp không còn đầy đủ chứng từ, sổ sách để phục hồi hồ sơ. Ảnh: Nga Phạm. |
Phóng viên: Bộ Tài chính đang xây dựng chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong thực hiện pháp luật về quản lý thuế, đồng thời đáp ứng yêu cầu cấp bách về trao đổi thông tin theo yêu cầu. Ông đánh giá thế nào về sự cần thiết của chính sách này?
Ông Võ Thành Cay: Từ thực tế hoạt động trong lĩnh vực tư vấn chính sách thuế, tôi cho rằng việc Bộ Tài chính đề xuất xây dựng Nghị quyết là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh còn nhiều người nộp thuế đã ngừng hoạt động từ nhiều năm nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực hoặc khôi phục mã số thuế.
Thực tế, không ít doanh nghiệp khi ngừng hoạt động đã không còn nhân sự kế toán, chữ ký số, hóa đơn, chứng từ, sổ sách hoặc không có khả năng phục hồi đầy đủ dữ liệu. Trong khi đó, các hồ sơ khai thuế còn thiếu và những vi phạm về thủ tục vẫn tồn tại.
Nếu tiếp tục yêu cầu những doanh nghiệp này thực hiện đầy đủ các thủ tục theo cơ chế thông thường, chi phí tuân thủ có thể rất lớn, nhưng chưa chắc giải quyết được tình trạng mã số thuế tồn đọng.
Đáng chú ý, việc Bộ Tài chính chủ động đề xuất một cơ chế đặc thù cho thấy cách tiếp cận tích cực trong xử lý những tồn tại kéo dài của công tác quản lý thuế.
Thay vì chỉ yêu cầu người nộp thuế tiếp tục hoàn thiện toàn bộ hồ sơ theo quy trình thông thường, dự thảo đã tính đến những khó khăn thực tế, từ đó đề xuất giải pháp giảm bớt thủ tục và chi phí tuân thủ.
Tôi đánh giá đây là hướng đi kịp thời, thể hiện sự đổi mới trong tư duy xây dựng chính sách, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp tháo gỡ những vướng mắc về pháp lý.
Chính sách cũng phù hợp với định hướng cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, cải thiện môi trường kinh doanh và phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 198/2025/QH15.
Phóng viên: Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo là cho phép người nộp thuế không phải nộp một số hồ sơ khai thuế của các kỳ không phát sinh nghĩa vụ thuế. Theo ông, quy định này có giải quyết được những vướng mắc thực tế?
Ông Võ Thành Cay: Một trong những điểm tích cực của dự thảo là các giải pháp được đề xuất đã hướng trực tiếp vào những vướng mắc mà người nộp thuế gặp phải trong quá trình hoàn thiện thủ tục. Điều này cho thấy Bộ Tài chính đã quan tâm đến yêu cầu giảm chi phí tuân thủ và tính khả thi của chính sách ngay từ khâu xây dựng.
![]() |
| Ông Võ Thành Cay, CEO Công ty TNHH Giải pháp Doanh nghiệp ANT Việt Nam (ANT Solutions). Ảnh: Nga Phạm. |
Đặc biệt, quy định cho phép người nộp thuế không phải nộp một số hồ sơ khai thuế đối với các kỳ không phát sinh nghĩa vụ thuế trong phạm vi chính sách có thể trực tiếp tháo gỡ lượng hồ sơ tồn đọng của những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trong thời gian dài.
Chúng tôi cũng đánh giá cao cơ chế cho phép người nộp thuế cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cách tiếp cận này phù hợp với thực tế nhiều doanh nghiệp không còn đầy đủ chứng từ, sổ sách để phục hồi hồ sơ.
Tuy nhiên, cần kết hợp cơ chế cam kết với dữ liệu quản lý thuế hiện có và phương thức kiểm soát theo rủi ro.
Theo tôi, cần phân biệt giữa việc không phát sinh hoạt động kinh doanh, không phát sinh số thuế phải nộp và không phát sinh nghĩa vụ khai thuế.
Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp còn số thuế được khấu trừ, hoàn thuế hoặc chuyển sang kỳ sau để bảo đảm áp dụng chính sách thống nhất.
Nếu không làm rõ những vấn đề này, quá trình thực hiện có thể phát sinh cách hiểu và áp dụng khác nhau.
Phóng viên: Có ý kiến cho rằng, doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ lâu nhưng chưa được cập nhật trạng thái mã số thuế. Theo ông, dự thảo đã giải quyết được vấn đề này chưa?
Ông Võ Thành Cay: Theo tôi, một nội dung có thể tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện là cơ chế xử lý đối với khoảng thời gian người nộp thuế đã ngừng hoạt động trên thực tế nhưng chưa được cơ quan Thuế cập nhật trạng thái 03 hoặc 06.
Chẳng hạn, một doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ tháng 1/2019 nhưng đến tháng 9/2020 mới được cơ quan Thuế xác định không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (trạng thái 06).
Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể vẫn phải hoàn thiện các hồ sơ khai thuế còn thiếu của khoảng thời gian trước khi được cập nhật trạng thái, mặc dù thực tế đã ngừng kinh doanh.
Đây là vướng mắc đáng lưu ý bởi những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động lâu năm thường không còn đủ nhân sự, chứng từ và dữ liệu để hoàn thiện hồ sơ.
Một vấn đề khác là trước thời điểm hóa đơn điện tử được triển khai bắt buộc trên toàn quốc từ ngày 1/7/2022, dữ liệu mua vào, bán ra do cơ quan Thuế quản lý có thể chưa đầy đủ nếu người nộp thuế không thực hiện kê khai.
Vì vậy, đối với những kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế thuộc phạm vi áp dụng chính sách đặc thù, cần nghiên cứu cơ chế xử lý phù hợp với tình trạng hồ sơ, dữ liệu thực tế, tránh yêu cầu phục hồi toàn bộ chứng từ, sổ sách khi không thực sự cần thiết, đồng thời vẫn bảo đảm khả năng kiểm tra, xác minh của cơ quan Thuế.
Chúng tôi kiến nghị bổ sung cơ chế xử lý đối với khoảng thời gian doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế trước khi được cập nhật trạng thái mã số thuế, trên cơ sở có căn cứ xác định thời gian ngừng hoạt động và các nghĩa vụ thuế thực tế phát sinh, bảo đảm tính khả thi và tránh bị lợi dụng chính sách.
Phóng viên: Dự thảo nghị quyết của Chính phủ đưa ra cơ chế giảm mức tiền phạt xuống còn 30%, 50% và 70% mức phạt thông thường theo ba giai đoạn đến ngày 30/6/2028. Ông đánh giá như thế nào về mức đề xuất này?
Ông Võ Thành Cay: Việc đề xuất giảm mức xử phạt theo từng giai đoạn cho thấy nỗ lực của cơ quan soạn thảo trong việc tạo điều kiện để người nộp thuế khắc phục những tồn đọng.
Đây là bước cải thiện tích cực so với việc áp dụng toàn bộ mức phạt theo quy định thông thường. Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề từ thực tế của những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm.
Đối với các doanh nghiệp này, việc hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế không mang lại lợi ích kinh doanh trực tiếp. Trong khi đó, họ vẫn phải bỏ chi phí để phục hồi hồ sơ, xử lý những nghĩa vụ còn tồn đọng và thực hiện các thủ tục cần thiết.
Tôi kiến nghị xem xét cơ chế miễn tiền phạt có điều kiện đến hết năm 2027, sau đó áp dụng mức phạt bằng 30% mức thông thường trong 6 tháng đầu năm 2028. Đây là đề xuất nhằm tạo động lực mạnh hơn để người nộp thuế chủ động xử lý những tồn đọng kéo dài.
Việc áp dụng cần gắn với các điều kiện cụ thể, bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế thực tế phát sinh, đồng thời tuân thủ thống nhất các nguyên tắc xử phạt, hiệu lực và chuyển tiếp theo pháp luật hiện hành.
Phóng viên: Theo ông, đâu là yếu tố quyết định để chính sách đặc thù thực sự giải quyết được tình trạng mã số thuế tồn đọng, thay vì chỉ giảm số lượng hồ sơ hoặc tiền xử phạt?
Ông Võ Thành Cay: Theo tôi, hiệu quả chính sách không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng hồ sơ khai thuế được bổ sung hay số tiền phạt thu được.
Điều quan trọng hơn là có bao nhiêu mã số thuế được khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực hợp pháp, chất lượng dữ liệu đăng ký thuế được cải thiện đến đâu và những vướng mắc kéo dài có thực sự được giải quyết hay không.
Đối với những chủ thể có nhu cầu tiếp tục kinh doanh, chính sách cần tạo điều kiện để họ khôi phục hoạt động. Ngược lại, với những chủ thể đã chấm dứt hoạt động thực tế, cần có cơ chế phù hợp để họ hoàn tất tình trạng pháp lý, qua đó giảm chi phí tuân thủ và chi phí quản lý nhà nước.
Muốn vậy, bên cạnh việc giảm mức xử phạt, cần làm rõ tiêu chí xác định kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế, xử lý phù hợp khoảng thời gian ngừng hoạt động thực tế trước khi cập nhật trạng thái mã số thuế và bảo đảm áp dụng thống nhất các quy định pháp luật.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giảm tiền phạt hay bổ sung hồ sơ còn thiếu, mà là tạo điều kiện để người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ pháp lý, khôi phục hoạt động khi có nhu cầu hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế đúng quy định.
Đó cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, chuẩn hóa dữ liệu và cải thiện môi trường kinh doanh.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!