![]() |
| TS. Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội. Ảnh: Thúy Nga |
Phóng viên: Từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, ông đánh giá đâu là điểm đáng chú ý nhất trong đề xuất giảm 30% thuế đối với doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh thuộc diện áp dụng?
TS. Mạc Quốc Anh: Theo tôi, nếu chỉ nhìn vào con số giảm 30% thì chúng ta chưa thấy hết ý nghĩa kinh tế của chính sách.
Điều quan trọng hơn nằm ở sự chuyển biến trong tư duy điều hành: chính sách tài khóa không chỉ nhằm bảo đảm nguồn thu trước mắt mà còn phải góp phần tạo ra năng lực sản xuất và nguồn thu lớn hơn trong tương lai.
Trong kinh tế học, khi khu vực doanh nghiệp gặp khó khăn về dòng tiền, sức mua hoặc chi phí đầu vào, việc Nhà nước chủ động giảm một phần nghĩa vụ tài chính có thể tạo ra hiệu ứng hỗ trợ theo chu kỳ.
Nhà nước chấp nhận giảm một phần nguồn thu trong ngắn hạn để doanh nghiệp giữ lại nguồn lực, duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm, đầu tư và tạo thêm giá trị gia tăng.
Nếu doanh nghiệp phát triển tốt hơn thì cơ sở thuế trong tương lai sẽ rộng hơn và nguồn thu ngân sách sẽ bền vững hơn. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, ý nghĩa này càng rõ.
Một doanh nghiệp lớn có thể có nhiều kênh huy động vốn, nhưng doanh nghiệp nhỏ thường phụ thuộc vào dòng tiền tự có và tín dụng ngân hàng.
Trong điều kiện chi phí vốn, nguyên vật liệu, logistics, tiền lương và yêu cầu đầu tư công nghệ ngày càng lớn, phần thuế được giữ lại có thể trở thành một nguồn vốn rất thiết thực.
Có doanh nghiệp sẽ bổ sung vốn lưu động để nhận thêm đơn hàng; có doanh nghiệp đầu tư máy móc, phần mềm, AI, thương mại điện tử; có doanh nghiệp dùng nguồn lực đó để giữ lao động có kỹ năng hoặc đáp ứng các tiêu chuẩn mới về xanh hóa, truy xuất nguồn gốc, ESG.
Vì vậy, tôi cho rằng cần nhìn chính sách này theo nguyên tắc “giảm một đồng nghĩa vụ hôm nay để tạo ra nhiều đồng giá trị gia tăng trong tương lai”. Đây chính là bản chất của tư duy nuôi dưỡng nguồn thu.
Tuy nhiên, chính sách cần xác định đúng đối tượng, tránh ưu đãi dàn trải. Tiêu chí về doanh thu, quy mô, lĩnh vực và quan hệ sở hữu cần rõ ràng, đặc biệt phải có cơ chế ngăn tình trạng chia tách doanh nghiệp hoặc biến đổi hình thức pháp lý chỉ để hưởng ưu đãi.
Phóng viên: Theo ông, doanh nghiệp nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh sẽ được hưởng lợi như thế nào nếu chính sách được thông qua và triển khai?
TS. Mạc Quốc Anh: Tôi cho rằng lợi ích lớn nhất không chỉ nằm ở số tiền được giảm, mà là doanh nghiệp có thêm quyền chủ động đối với dòng tiền của chính mình.
Đối với doanh nghiệp nhỏ, dòng tiền đôi khi quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Một khoản tiền được giữ lại đúng thời điểm có thể giúp doanh nghiệp thanh toán nguyên liệu cho một đơn hàng mới, trả lương để giữ người lao động, đầu tư một dây chuyền nhỏ hoặc triển khai phần mềm quản trị để nâng năng suất.
![]() |
| Thời gian qua, TP. Hà Nội đã có nhiều hoạt động hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ trên địa bàn. Ảnh: Hương Quỳnh. |
Về mặt kinh tế, khi nguồn lực này được tái đầu tư, nó có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa: doanh nghiệp mua thêm nguyên vật liệu thì nhà cung cấp có thêm doanh thu; doanh nghiệp mở rộng sản xuất thì tạo thêm việc làm; người lao động có thu nhập thì sức mua tăng; doanh nghiệp có lợi nhuận tốt hơn thì lại tiếp tục đóng góp cho ngân sách.
Như vậy, giảm thuế nếu được thiết kế hợp lý có thể tạo ra một vòng tuần hoàn tích cực giữa doanh nghiệp – việc làm – tiêu dùng – đầu tư – ngân sách.
Đối với hộ và cá nhân kinh doanh, tôi đặc biệt quan tâm đến tác động thúc đẩy quá trình chính thức hóa và chuyển đổi số.
Hiện nay, rất nhiều hộ kinh doanh đang thích ứng với hóa đơn điện tử, phần mềm bán hàng, kế toán, thanh toán không dùng tiền mặt và quản trị dựa trên dữ liệu.
Đây là hướng đi cần thiết nhưng đều phát sinh chi phí ban đầu. Nếu chính sách thuế vừa tạo dư địa tài chính, vừa đi kèm hướng dẫn đơn giản, minh bạch, chúng ta có thể biến nghĩa vụ tuân thủ thành động lực để hộ kinh doanh nâng cao năng lực quản trị và từng bước chuyển đổi thành doanh nghiệp khi đủ điều kiện.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thực tế rằng giảm thuế không có nghĩa doanh nghiệp lập tức mở rộng đầu tư. Nếu sức mua yếu hoặc thị trường đầu ra chưa chắc chắn, doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng nguồn lực đó để củng cố thanh khoản và tăng dự phòng.
Điều này cũng có ý nghĩa tích cực bởi một nền kinh tế muốn tăng trưởng bền vững trước hết phải có cộng đồng doanh nghiệp có sức chống chịu tốt.
Phóng viên: Ngoài chính sách giảm thuế, theo ông cần tiếp tục hoàn thiện những giải pháp nào để thực sự tạo động lực phát triển cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và khu vực kinh tế tư nhân?
TS. Mạc Quốc Anh: Theo tôi, không nên coi giảm thuế là một chính sách riêng lẻ. Để một đồng thuế được giảm có thể chuyển hóa thành nhiều đồng vốn đầu tư và giá trị gia tăng, cần triển khai đồng bộ ít nhất năm nhóm giải pháp.
Thứ nhất: Tiếp tục cắt giảm thực chất chi phí tuân thủ. Đối với doanh nghiệp nhỏ, đôi khi chi phí về thời gian, thủ tục, hồ sơ và cơ hội kinh doanh bị bỏ lỡ còn lớn hơn số tiền thuế được hỗ trợ.
Vì vậy, thủ tục phải đơn giản, số hóa và hạn chế tối đa việc doanh nghiệp phải cung cấp lại những dữ liệu mà Nhà nước đã có.
Thứ hai: Phải cải thiện khả năng tiếp cận vốn và các kênh tài chính ngoài tín dụng truyền thống.
Cần phát huy hiệu quả hơn các quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho thuê tài chính, tài chính chuỗi cung ứng và các sản phẩm tín dụng dựa trên dòng tiền, hóa đơn và dữ liệu kinh doanh.
Thứ ba: Hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng chính phần nguồn lực được giữ lại để đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, AI và chuyển đổi xanh. Đây mới là cách biến hỗ trợ thuế từ giải pháp ngắn hạn thành năng lực cạnh tranh dài hạn.
Thứ tư: Cần hỗ trợ mở rộng thị trường, kết nối doanh nghiệp nhỏ với tập đoàn lớn, doanh nghiệp FDI, chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế. Doanh nghiệp chỉ mạnh dạn đầu tư khi nhìn thấy thị trường và đơn hàng.
Thứ năm: Cần duy trì một cơ chế đối thoại và đánh giá chính sách sau thực thi, chẳng hạn theo các mốc 6 tháng và 12 tháng, để xác định số tiền thuế được giữ lại đã đi vào vốn lưu động, đầu tư, việc làm hay chuyển đổi công nghệ như thế nào.
Tôi cho rằng mục tiêu cuối cùng không phải là doanh nghiệp được giảm bao nhiêu thuế, mà là sau chính sách này có bao nhiêu doanh nghiệp khỏe hơn, bao nhiêu việc làm được giữ lại, năng suất tăng bao nhiêu và bao nhiêu hộ kinh doanh đủ năng lực chuyển lên mô hình doanh nghiệp.
Nếu thực hiện được điều đó, giảm thuế không đơn thuần là giảm nguồn thu ngân sách. Đó là một khoản đầu tư của chính sách tài khóa cho sức sản xuất của nền kinh tế.
Khi doanh nghiệp lớn mạnh, tạo ra nhiều việc làm, nhiều giá trị gia tăng và nhiều lợi nhuận hơn, nguồn thu cho ngân sách sẽ tự nhiên được mở rộng và bền vững hơn. Theo tôi, đó mới là ý nghĩa sâu xa nhất của chính sách.
Xin trân trọng cảm ơn ông!