![]() |
| Chuyển biến mang tính căn bản nhất của khung pháp lý mới về quản lý thuế TMĐT là sự thay đổi trong tư duy tiếp cận. Ảnh minh họa: Thu Hiền. |
Phóng viên: Thưa bà, những điểm thay đổi quan trọng nhất của khung pháp lý mới về quản lý thuế thương mại điện tử (TMĐT) sau khi Luật TMĐT năm 2025 và Luật Quản lý thuế năm 2025 đi vào thực thi có tác động như thế nào đến hoạt động kinh doanh trên môi trường số?
Bà Thái Thị Vân Anh: Theo quan sát, điểm chuyển biến mang tính căn bản nhất của khung pháp lý mới về quản lý thuế TMĐT là sự thay đổi trong tư duy tiếp cận: từ việc quản lý phân tán đối với từng cá nhân, người bán hàng sang quản lý xuyên suốt hệ sinh thái và các dòng giao dịch trên môi trường số.
Luật TMĐT 2025 (chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026) đã kịp thời bao quát đa dạng mô hình kinh doanh trên môi trường số: từ nền tảng TMĐT, mạng xã hội có hoạt động thương mại, đến livestream bán hàng và tiếp thị liên kết. Luật xác lập trách nhiệm pháp lý cụ thể cho từng chủ thể tham gia hệ sinh thái như chủ quản nền tảng, người bán, người livestream cho đến các đơn vị hỗ trợ dịch vụ số.
Thực tế triển khai thời gian qua cho thấy đây là bước chuyển then chốt: thay vì chỉ thụ động dựa vào sự tự giác khai báo của người bán, cơ quan Thuế có thêm nguồn dữ liệu giao dịch thực tế từ nền tảng để đối soát, phân tích rủi ro và xác định nghĩa vụ thuế.
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 làm rõ hơn phạm vi quản lý đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh hoặc phát sinh thu nhập tại Việt Nam trên các nền tảng số. Đồng thời, Luật củng cố cơ chế cung cấp, chia sẻ và trao đổi thông tin phục vụ quản lý thuế, phù hợp với các điều ước, thỏa thuận quốc tế về thuế và thông lệ quốc tế.
Về mặt tác động đến thị trường, hệ quả rõ nét nhất hiện nay là tính minh bạch và khả năng truy xuất giao dịch ngày càng cao. Trong dài hạn, đây là bước đi tất yếu để lành mạnh hóa thị trường, thu hẹp khoảng cách về nghĩa vụ thuế giữa kinh doanh truyền thống và kinh doanh số.
|
Phóng viên: Bà có thể cho biết cơ chế sàn TMĐT khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cần được hoàn thiện những nội dung gì để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người bán?
Bà Thái Thị Vân Anh: Cơ chế sàn TMĐT khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay là một bước tiến quan trọng trong hiện đại hóa công tác quản lý thuế đối với kinh tế số. Tuy nhiên, khi chuyển giao một phần trách nhiệm quản lý sang các nền tảng công nghệ, bài toán trọng tâm không chỉ dừng lại ở “thu được bao nhiêu thuế”, mà cốt lõi là “thu đúng, thu đủ và xác định chính xác nghĩa vụ thuế thực tế của từng người bán”.
Để cơ chế này vận hành thực sự công bằng, hiệu quả và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người kinh doanh, cần tiếp tục chuẩn hóa nguyên tắc xác định doanh thu tính thuế và cơ chế xử lý giao dịch hoàn, hủy, đổi trả hoặc điều chỉnh giao dịch, bảo đảm số thuế cuối cùng phản ánh đúng nghĩa vụ thực tế của người bán.
Đồng thời, cần có hướng dẫn thống nhất về cách tổng hợp doanh thu trong trường hợp người bán hoạt động đa kênh, vừa bán trên nhiều sàn, vừa bán qua website, mạng xã hội hoặc cửa hàng trực tiếp.
Bên cạnh đó, cần phân định rõ ràng trách nhiệm giữa người bán và nền tảng khi có sai sót, giúp hạn chế tranh chấp và tạo cơ sở xử lý sai sót minh bạch hơn.
Tiếp đến là minh bạch hóa dữ liệu đối soát và chứng từ khấu trừ thuế điện tử. Theo đó, người bán cần được tiếp cận thông tin rõ ràng về giá trị giao dịch, căn cứ và mức thuế áp dụng, số thuế đã khấu trừ, trạng thái giao dịch và dòng tiền thực nhận. Đặc biệt, chứng từ khấu trừ thuế điện tử cần được chuẩn hóa và có khả năng tích hợp, đối soát thuận tiện với dữ liệu thuế của người nộp thuế.
Pháp luật đã có cơ chế xử lý số thuế nộp thừa, nhưng theo tôi, quy trình này cần tiếp tục được số hóa và đơn giản hóa để phù hợp với đặc thù của hàng triệu giao dịch có giá trị nhỏ.
Các sàn TMĐT không nên chỉ xem việc khấu trừ thuế là một nghĩa vụ được giao thêm, mà cần coi đây là bài toán quản trị dữ liệu và quản trị rủi ro vận hành. Nền tảng nào có dữ liệu chuẩn xác, cơ chế đối soát minh bạch và quy trình xử lý sai lệch rõ ràng sẽ tạo dựng được niềm tin với cộng đồng người bán, qua đó góp phần nâng cao chất lượng và tính bền vững của toàn bộ hệ sinh thái TMĐT.
Phóng viên: Người bán hàng online cần lưu ý những nội dung pháp lý nào để hạn chế rủi ro, thưa bà?
Bà Thái Thị Vân Anh: Điều quan trọng nhất mà hộ và cá nhân kinh doanh online cần nhận thức rõ là: sàn TMĐT có thể thực hiện thay một số khâu trong việc khấu trừ, kê khai và nộp thuế, nhưng không thay thế toàn bộ trách nhiệm pháp lý của người bán.
Để hạn chế rủi ro pháp lý, người bán hàng online cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề cốt lõi sau:
Thứ nhất, cần phải theo dõi và tổng hợp doanh thu từ các kênh kinh doanh thuộc cùng một chủ thể để xác định đúng ngưỡng và nghĩa vụ thuế. Việc một sàn đã khấu trừ thuế trên phần doanh thu tại sàn đó không đồng nghĩa người bán đã hoàn thành nghĩa vụ đối với toàn bộ hoạt động kinh doanh đa kênh của mình.
Thứ hai, phân biệt rõ giữa “sàn nộp thuế thay” và “nghĩa vụ về hóa đơn”. Việc sàn khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay không thay thế nghĩa vụ về hóa đơn của hộ, cá nhân kinh doanh. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh thuộc diện phải sử dụng hóa đơn điện tử, người bán cần thực hiện đúng quy định về lập và xuất hóa đơn cho người mua.
Thứ ba, quản lý hóa đơn, chứng từ đầu ra phải đi liền với chứng từ đầu vào. Đặc biệt, đối với nhóm hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 03 tỷ đồng/năm, áp dụng phương pháp tính thuế TNCN trên thu nhập tính thuế (Doanh thu - Chi phí). Lúc này, các khoản chi phí muốn được trừ bắt buộc phải đáp ứng đủ điều kiện luật định, bao gồm hóa đơn, chứng từ hợp pháp và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong những trường hợp quy định.
Thứ tư, người bán cần sử dụng thông tin định danh cá nhân, tài khoản thanh toán và thông tin đăng ký thuế một cách nhất quán; tránh việc mượn danh tính hoặc sử dụng tài khoản của người khác để mở gian hàng, nhận tiền giao dịch.
Đồng thời, không nên xem giao diện quản trị của sàn là “cuốn sổ kế toán” duy nhất mà cần lưu trữ đầy đủ dữ liệu kinh doanh, hóa đơn đầu ra và chứng từ đầu vào hợp pháp để chủ động đối soát, giải trình và tự bảo vệ mình trong mọi tình huống.
![]() |
| Cơ quan Thuế nên tăng cường các công cụ cảnh báo rủi ro sớm. Ảnh: T.Hiền, hỗ trợ bởi AI. |
Phóng viên: Theo bà, việc sử dụng dữ liệu từ sàn TMĐT, ngân hàng, đơn vị vận chuyển và các nền tảng số cần bảo đảm những nguyên tắc nào nhằm cân bằng giữa yêu cầu quản lý thuế và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân?
Bà Thái Thị Vân Anh: Không phải mục tiêu quản lý thuế nào cũng đòi hỏi phải thu thập toàn bộ dữ liệu hiện có trong chuỗi giao dịch. Nguyên tắc ở đây là dữ liệu được thu thập phải phục vụ một mục tiêu quản lý cụ thể và tương xứng với mục tiêu đó, tránh tư duy “gom hết dữ liệu cho chắc”.
Dữ liệu từ bên thứ ba nên được xem là cơ sở quan trọng để nhận diện rủi ro, nhưng không nên mặc nhiên coi là “sự thật tuyệt đối”. Vì vậy, pháp luật cần bảo đảm cơ chế đối soát minh bạch và quyền được giải trình, cung cấp chứng từ của người nộp thuế trước khi cơ quan quản lý đưa ra kết luận về nghĩa vụ thuế.
Cần có hành lang quy định rõ ràng về quyền hạn truy cập của từng cấp quản lý, mục đích sử dụng, thời hạn lưu trữ và trách nhiệm bảo mật thông tin. Đây là trách nhiệm pháp lý ràng buộc xuyên suốt toàn bộ chuỗi xử lý dữ liệu: từ cơ quan thuế, ngân hàng thương mại, các sàn TMĐT cho đến các doanh nghiệp logistics chuyển phát.
Dưới góc độ thực thi chính sách, một điểm đặc biệt quan trọng là dữ liệu nên được sử dụng để phân loại rủi ro nhằm tập trung nguồn lực thay vì tạo cớ để kiểm tra dàn trải.
Phóng viên: Theo bà, những vấn đề nào trong quản lý thuế TMĐT cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới?
Bà Thái Thị Vân Anh: Khung pháp lý về quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT của Việt Nam thời gian qua đã ghi nhận những bước chuyển biến vượt bậc. Luật Quản lý thuế 2025, Luật Thuế TNCN 2025, Luật TMĐT 2025 cùng hệ thống nghị định, thông tư hướng dẫn đã xác lập nền tảng pháp lý quan trọng cho công tác quản lý kinh tế số.
Tuy nhiên, tốc độ đổi mới và đa dạng hóa của các mô hình kinh doanh trên không gian mạng, cần tiếp tục hoàn thiện một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, làm rõ tiêu chí phân định bản chất thu nhập của KOL/KOC và nhà sáng tạo nội dung.
Vấn đề then chốt là cần có tiêu chí pháp lý rõ ràng, dựa trên bản chất hoạt động và quan hệ hợp đồng, để phân định khoản thu nào là thu nhập từ kinh doanh, khoản thu nào là tiền lương, tiền công.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế kiểm soát đối với thương mại qua mạng xã hội và livestream ngoài hệ thống sàn TMĐT.
Thay vì chỉ dựa vào kiểm tra thủ công, hướng hoàn thiện khả thi là thiết lập cơ chế kết nối dữ liệu phù hợp giữa cơ quan thuế với các doanh nghiệp logistics/giao hàng thu hộ và các tổ chức trung gian thanh toán, nhằm nhận diện tốt hơn dòng doanh thu thực tế mà không tạo thêm thủ tục hành chính không cần thiết cho người bán.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý đối với các dịch vụ số và nền tảng xuyên biên giới. Mặc dù Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài đã tạo ra một cơ chế quản lý và kê khai thuận lợi hơn, việc nhận diện đầy đủ các nhà cung cấp chưa đăng ký hoặc chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ vẫn là một bài toán cần tiếp tục giải quyết.
Theo tôi, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin với các ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian thanh toán và các bên liên quan để nâng cao khả năng nhận diện dòng tiền xuyên biên giới.
Thứ tư, chuyển dần từ tư duy “hậu kiểm xử phạt” sang cơ chế tuân thủ hợp tác. Thay vì chỉ sử dụng dữ liệu để phát hiện và xử lý sau khi sai sót đã phát sinh, cơ quan Thuế nên tăng cường các công cụ cảnh báo rủi ro sớm.
Khi người nộp thuế có thể tiếp cận dữ liệu đối soát ở mức độ phù hợp và được tạo cơ chế tự kiểm tra, tự điều chỉnh bổ sung kịp thời, chi phí tuân thủ của xã hội sẽ giảm và tính tự nguyện sẽ được nâng cao.
Việc hoàn thiện thể chế cần tập trung xây dựng hệ nguyên tắc pháp lý khung một cách linh hoạt dựa trên bản chất kinh tế của dòng tiền và luồng dữ liệu, nhằm bảo đảm sự công bằng về nghĩa vụ thuế, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy kinh tế số và đổi mới sáng tạo phát triển bền vững.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!