![]() |
| Các chuyên gia thuế kiến nghị cần thống nhất cơ chế xử lý hóa GTGT đầu vào bị bỏ sót sau khi kỳ tính thuế đã được cơ quan Thuế kiểm tra, giải quyết hoàn thuế. Ảnh: Đức Mỹ |
Phóng viên: Từ thực tiễn tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp về hoàn thuế GTGT, ông cho biết những vướng mắc thường gặp đối với hóa đơn GTGT đầu vào bị bỏ sót thuộc các kỳ đã được cơ quan thuế kiểm tra và giải quyết hoàn thuế?
Ông Trần Văn Quân: Trong quá trình tư vấn, chúng tôi ghi nhận tình huống doanh nghiệp có hóa đơn GTGT đầu vào hợp pháp, hàng hóa, dịch vụ thực tế phát sinh phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng do sơ suất kế toán nên chưa kê khai khấu trừ ở kỳ phát sinh.
Kỳ tính thuế đó đã được kiểm tra trước hoàn thuế và đã có quyết định hoàn thuế. Tuy nhiên, khi phát hiện hóa đơn bị bỏ sót và thực hiện kê khai tại kỳ hiện tại, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi đưa vào hồ sơ đề nghị hoàn tiếp theo.
Đáng chú ý, điểm vướng mắc nằm ở cách ghi nhận và đối chiếu số liệu. Điển hình như: Doanh nghiệp có thể điều chỉnh tăng số thuế GTGT còn được khấu trừ tại chỉ tiêu [38] của tờ khai 01/GTGT (theo Thông tư số 89/2026/TT-BTC), nhưng khi lập hồ sơ hoàn thuế, có trường hợp cơ quan Thuế chỉ xem xét số thuế đầu vào ghi nhận qua các chỉ tiêu [23], [24], [25] và không chấp nhận số điều chỉnh qua chỉ tiêu [38].
Theo tôi, khi đánh giá số thuế GTGT đầu vào có được hoàn hay không, cơ quan chức năng cần xét về bản chất giao dịch có thật, chứng từ hợp pháp, điều kiện khấu trừ, trường hợp hoàn thuế và khoản thuế đã được giải quyết trước đây hay chưa.
Việc kỳ phát sinh hóa đơn đã từng được kiểm tra hoàn thuế không nên được xem là căn cứ loại trừ hóa đơn chưa từng được kê khai, khấu trừ hoặc hoàn thuế. Đồng thời, cơ chế giải quyết trường hợp này cần được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, làm rõ để thống nhất cách hiểu cả phía người nộp thuế và cơ quan Thuế trên phạm vi toàn quốc.
Phóng viên: Theo ông, doanh nghiệp có được kê khai bổ sung và đề nghị hoàn thuế đối với hóa đơn bỏ sót của kỳ trước vào kỳ phát hiện hay không?
Ông Trần Văn Quân: Trước hết cần phân biệt quyền kê khai bổ sung với quyền được hoàn thuế. Tại khoản 5 Điều 12 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 ghi nhận việc khai bổ sung hồ sơ có sai, sót trong thời hạn 5 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ có sai, sót.
|
Các quy định quản lý thuế hiện nay không có quy định nào loại trừ trường hợp hoá đơn kê khai sót mà thuộc kỳ phát sinh đã kiểm tra mất đi quyền kê khai khấu trừ hoặc hoàn thuế.
Đồng thời, theo hướng dẫn tờ khai 01/GTGT, trong những trường hợp phù hợp, số thuế còn được khấu trừ của các kỳ trước được điều chỉnh qua chỉ tiêu [37] hoặc [38] tại kỳ phát hiện sai, sót. Đây là cơ sở quan trọng để phân biệt việc điều chỉnh số liệu tại kỳ hiện tại với khai bổ sung hồ sơ kỳ gốc.
Theo tôi, cần tách 2 trường hợp:
Thứ nhất, doanh nghiệp muốn thay đổi khoản thuế đã nằm trong phạm vi kết luận kiểm tra, giải quyết hoàn (đây là chốt chặn ngăn cấm việc kê khai điều chỉnh kỳ đã kiểm tra).
Thứ hai, doanh nghiệp phát hiện hóa đơn hoàn toàn chưa từng kê khai, chưa đưa vào hồ sơ đề nghị hoàn, chưa được khấu trừ và giải quyết hoàn thuế. Trường hợp này cần cơ chế rà soát riêng trên cơ sở phạm vi kiểm tra thực tế, chứng từ và việc không phát sinh khấu trừ, hoàn trùng.
Tuy nhiên, không phải mọi hóa đơn bỏ sót đều được hoàn. Doanh nghiệp có quyền đề nghị cơ quan Thuế xem xét theo đúng thủ tục, còn kết quả phụ thuộc vào điều kiện khấu trừ tại Điều 14, trường hợp hoàn thuế tại Điều 15 Luật Thuế giá trị gia tăng, các quy định chi tiết tại khoản 6, Điều 23 của Nghị định 181/2025/NĐ-CP và giới hạn khai bổ sung theo pháp luật quản lý thuế.
Phóng viên: Ông có kiến nghị gì đối với cơ quan chức năng để phòng ngừa trường hợp hoàn thuế trùng lặp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp?
Ông Trần Văn Quân: Tôi cho rằng vấn đề không đơn thuần là kỹ thuật lập tờ khai mà còn liên quan đến nguyên tắc bảo đảm quyền của người nộp thuế. Trường hợp phát hiện hóa đơn bỏ sót không làm giảm số thuế phải nộp đã xác định ở kỳ trước, không làm tăng số thuế đã hoàn và không làm thay đổi nội dung cơ quan Thuế đã kết luận, mà chỉ là số thuế đầu vào chưa từng được xem xét, thì cần có phương thức xử lý minh bạch, phù hợp bản chất kinh tế của giao dịch.
Để đảm bảo đúng quy định, trước hết cần phân biệt kỳ tính thuế đã được kiểm tra với hóa đơn, khoản thuế đã thực sự được kiểm tra và giải quyết. Cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn cách xác định phạm vi kết luận kiểm tra đối với hóa đơn bỏ sót, không mặc nhiên xem mọi hóa đơn phát sinh trong một kỳ là khoản thuế đã được xử lý khi giải quyết hồ sơ hoàn thuế.
Tiếp đến, cơ quan chức năng cần hướng dẫn thống nhất cách đối chiếu số thuế điều chỉnh tăng với danh sách hóa đơn, chứng từ đầu vào trong hồ sơ tại chỉ tiêu [38] của tờ khai 01/GTGT đề nghị hoàn; chỉ rõ trường hợp nào phải khai bổ sung kỳ gốc, trường hợp nào được khai tại kỳ phát hiện và trường hợp nào cần giải trình, xử lý riêng do kỳ gốc đã được kiểm tra.
Cùng với đó, cơ quan Thuế cần xem xét thiết kế quy trình đối chiếu hóa đơn, hợp đồng, chứng từ thanh toán, sổ kế toán, số thuế đã được khấu trừ, số thuế đã hoàn và kết luận kiểm tra trước đó nhằm bảo đảm không hoàn trùng và không làm mất hiệu lực quyết định đã ban hành.
Cuối cùng là, cơ quan chức năng cần có hướng dẫn thống nhất, đồng bộ trong việc áp dụng các quy định liên quan nhằm kiểm soát chặt chẻ những khoản hoàn không đủ điều kiện, nhưng cần có cơ chế để doanh nghiệp thực hiện quyền khấu trừ và hoàn thuế hợp pháp.
Xin cảm ơn ông!